Những thành quả văn hóa của thời đại Phục Hưng đã giúp Châu Âu dẫn đầu thế giới trong vài thế kỷ tiếp theo đó, ít nhất là về mặt kinh tế và chính trị. Trong khoảng năm thế kỷ các cường quốc Châu Âu đã tìm cách thuộc địa hóa phần thế giới còn lại trong một quá trình mà đôi khi được gán cho mỹ từ là "văn minh hoá". Cho nên công cuộc bành trướng nền văn minh Âu Châu đã có một bề mặt đen tối như chính người Âu thời nay cũng đã nhìn nhận.

Thực dân Tây Ban Nha và người Da Đỏ
Nội dung hôm nay sẽ đề cập tới hậu quả của cuộc va chạm giữa người Âu với những dân tộc thật khác biệt với họ về văn hóa. Và sự dị biệt to tát về văn hóa này đã khiến cho người ta phải xét lại những khái niệm về văn minh và bản chất con người. "Cần phải biết trong khi Châu Âu của thời Phục Hưng đang chứng kiến nhiều xung đột đẫm máu và dã man, nhất là vì xung khắc tôn giáo, thì người Châu Âu đã đi đến những xứ mà thoạt đầu họ cho là kém văn minh. Nhưng rồi khi họ thấy lối sống của dân địa phương, tuy thiếu thốn về vật chất nhưng hiền hòa, đầy văn hóa và đạo đức họ cũng phải cảm phục. Từ đó người Châu Âu bắt đầu xét lại ý nghĩa của từ "dã man" mà họ gọi các dân tộc ngoài Châu Âu. Và họ thấy nhiều khi chữ "dã man" dùng để chỉ chính họ thì đúng hơn.". (1)
Khoảng từ giữa thế kỷ thứ 14 đến giữa thế kỷ thứ 15 là giai đoạn thám hiểm và khám phá hồ hởi nhất của Châu Âu. "Giai đoạn này mở đầu với việc người Bồ Đào Nha đi tìm vàng, rồi sau đó trở thành công cuộc tìm kiếm một con đường đi đến Ấn Độ. Nói chung họ muốn tìm đến gia vị và những đồ xa xỉ của phương Đông. Nổi tiếng nhất là cuộc du hành của Vasco de Gama, người đã tìm ra một đường biển mới để đi sang Ấn Độ vòng qua mũi Hảo Vọng và từ đó những lộ trình buôn bán mới đã được thiết lập.". (2)
Người Bồ Đào Nha đã đầu tiên thám hiểm hầu hết bờ biển Phi Châu, sau đó vào năm 1490 đến lượt người Tây Ban Nha, rồi đến người Anh và người Pháp. Nhưng từ khi người Âu khám phá ra Châu Mỹ và va chạm với dân tộc bản xứ thì cái gọi là văn minh phương Tây mới bắt đầu dấn thân vào những chốn họ chưa hề biết. Năm 1492 Christopher Columbus trong một chuyến hải hành được vương triều Tây Ban Nha bảo trợ đã tình cờ khám phá ra Mỹ Châu. Nhưng vì chưa biết đó là một châu lục mới đối với Châu Âu, ông ta đã gọi dân bản xứ là người Ấn vì ông tưởng rằng ông đã đến được Châu Á bằng một lộ trình mới. Về sau để phân biệt với người Ấn thật ở Ấn Độ dân bản xứ ở Châu Mỹ được gọi là Ấn Da Đỏ, một từ mà trong tiếng Việt đã trở thành "mọi da đỏ" với ngụ ý khinh thị rõ ràng cho dù Nhân Chủng Học ngày nay cho rằng dân bản xứ Châu Mỹ vốn có quan hệ huyết thống gần gũi hơn với người Châu Á.
Cuối cùng đạo quân viễn chinh Tây Ban Nha đã khuất phục được dân bản xứ theo sự ủy thác không những chỉ của quốc vương Tây Ban Nha mà còn của đức Giáo Hoàng và của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Như vậy đây là một quá trình thuộc địa hóa nặng mùi tôn giáo. "Người Ki Tô Giáo vốn xem việc đối xử với những dân tộc ngoại đạo trên thế giới là cả một vấn đề. Trong giáo điều Ki Tô đã có một chủ thuyết cho rằng dân ngoại đạo có quyền sống như họ muốn, có nghĩa là người Ki Tô không thể ngang nhiên lấn chiếm một xã hội ngoại đạo. Nhưng mặt khác Đức Giáo Hoàng đã dành cho mình cái quyền can thiệp để cứu rỗi linh hồn của những kẻ mà Giáo Hội xem là vô thần. Cho nên khi Columbus trở về từ vùng Caribbe và báo cáo rằng ở dó dân bản xứ chưa từng biết gì về Ki Tô Giáo và sẵn sàng theo đạo thì Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đã dùng vương triều Tây Ban Nha như một công cụ để thực hiện việc truyền đạo cho những người Da Đỏ. Vào năm 1493 Giáo Hoàng đã ủy thác trách nhiệm mà ông cho là linh thiêng cho vương triều Tây Ban Nha. Để đổi lại thì nước Tây Ban Nha được Giáo Hội cho phép chinh phục dân tộc này, chiếm đất nước của họ nếu cần và qua đó mang văn minh Âu Châu đến một thế giới mới.". (1)
Và như vậy Thiên Chúa Giáo đã liên kết với chủ nghĩa thực dân trong công cuộc thuộc địa hóa Châu Mỹ. Nhưng người Tây Ban Nha còn dùng những lý lẽ khác để biện minh cho việc chinh phục Mexico và Peru ở Nam Mỹ của họ. Theo một thiểu số người Tây Ban Nha có quyền lực, dân bản xứ không phải là con người mà là nô lệ bẩm sinh. Vì yếu thế dân bản xứ Châu Mỹ đành phải chấp nhận sự cai trị của người Tây Ban Nha, và từ đó những cuộc kháng chiến của họ chỉ còn là những cuộc nổi loạn lẻ tẻ.
Lúc bấy giờ thực dân Anh và Pháp đang chinh phục Bắc Mỹ thì lại biện minh cho sự hiện diện của họ bằng một cách khác. "Người Anh cho rằng dân bản xứ không có quyền sở hữu đất đai vì họ không biết cày cấy để sinh nhai theo lối sống định cư. Vào lúc này, như những dân tộc du mục khác, phần lớn dân Da Đỏ sống bằng săn bắn và thu hoạch cây trái trong thiên nhiên. Tuy hầu hết các bộ lạc tại Bắc Mỹ có trồng trọt chút ít, thực dân Anh và Pháp cho rằng họ không có quyền làm chủ toàn bộ Châu Mỹ, cũng như một người chỉ có vài chiếc tàu đánh cá không thể nào dành quyền sở hữu cả đại dương vậy. Biện luận kế đến cố nhiên là vấn đề hợp đồng. Người Âu vin vào cớ là họ đã mua lại đất của người Da Đỏ.
Ta thấy có sự khác biệt then chốt giữa hai thực dân.
Người Tây Ban Nha thì cho rằng họ có quyền làm chủ dân bản xứ bỡi vì họ muốn tạo nên một xã hội, trong đó người Da Đỏ đóng một vai trò then chốt cho dù đó là vai trò tôi tớ phục dịch. Trong khi người Anh và người Pháp chỉ muốn xua đuổi dân bản xứ đi nếu thấy không thể sống bên cạnh họ được. Anh và Pháp chẳng mấy quan tâm đến việc truyền giáo và họ hoàn toàn không tìm cách cai trị toàn bộ dân bản xứ.". (2)
Cũng nên biết lúc bấy giờ quyền lực của Tây Ban Nha bao phủ hầu hết Châu Âu và Châu Mỹ. Cho nên Tây Ban Nha mang hoài bão làm bá chủ thế giới. Người Tây Ban Nha tin đấy là một sứ mạng thiêng liêng đã được Thượng Đế giao phó cho họ qua trung gian giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Điều này rất quan trọng vì nó khiến cho người Tây Ban Nha tin rằng họ sẽ dần dà chinh phục cả thế giới và đem Thiên Chúa Giáo đến năm châu bốn bể. Nhưng trong quá trình đó người Tây Ban Nha đã bị kích xúc khi họ thấy những phong tục tập quán lạ đời của dân bản xứ Châu Mỹ.
"Lần đầu tiên họ chứng kiến cảnh tượng kinh khủng như người ăn thịt người. Nhưng trong thế kỷ 16 đã có một số tác giả biện luận rằng nếu việc ăn thịt người hiện hữu như một lối sống thì nó cũng chưa chắc đã tệ hơn sự đối xử giữa người Âu với nhau. Và nếu phong tục tập quán của con người đa dạng như vậy thì ta không thể quyết đoán một khuôn mẫu cho hành vi của con người.". (2)
Vào cuối thế kỷ thứ 16 có một người Pháp, ông Michel de Montaigne, đã dùng chuyện ăn thịt người tại Châu Mỹ để đả kích những hành động mà ông cho là còn dã man hơn tại Châu Âu. Và ông dẫn chứng việc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đã tra tấn và thiêu sống những người phản đạo.
"...Điều làm cho tôi buồn là trong khi chúng ta nhận định đúng về cái sai trái của họ thì lại như mù về cái sai trái của ta. Khi ta tra tấn và xẻo từng miếng thịt từ một cơ thể còn có cảm giác, khi ta nướng một con người, từ từ, mặc cho họ gào thét, thì tất nhiên là ta đã dã man hơn những ai nướng và ăn thịt người đã chết..."
Xử tử người cải đạo (Jean Calas 1762
"...Họ nói họ lấy làm lạ là chung quanh nhà vua có biết bao nhiêu người vạm vỡ, râu ria, mang vũ khí đầy mình, nhưng lại sẵn sàng tuân lệnh một đứa trẻ thay vì chọn một người trong bọn họ lên chỉ huy. Ba người Da Đỏ nói là họ để ý thấy có những người giàu với tài sản tiêu dùng không hết, trong khi bên ngoài cổng nhà họ lại có nhan nhản những người ăn xin gầy guộc, nghèo đói. Họ ngạc nhiên không hiểu tại sao những người nghèo này cứ chịu đựng bất công thay vì cắt cổ những người giàu và nổi lửa đốt nhà họ..."

Tội nhân bị tử hình phanh thây
Hố sâu chia cách giữa giàu và nghèo đã trở thành một điều đáng chê trách về văn minh Âu Châu. Ý nghĩa của từ "man rợ" như một cái gì trái nghĩa với văn minh đã gặp phải thử thách. Người Tây Ây bắt đầu nhận thức được những nghịch lý trong nền văn minh của họ. Các nhà tư tưởng như Montaigne không coi sự phát triển của văn minh như là một tiến bộ mà là một sự hủ hóa của một trạng thái ngây thơ tự nhiên. Một số những nhà truyền giáo Tây Ban Nha cho là họ đã tìm thấy con người hoang sơ đó tại Tân Thế Giới. "Các giáo sĩ Tây Ban Nha cho rằng những người dân bản xứ họ gặp có thể so sánh với con người Địa Đàng trước khi sa ngã. Đó là những con người hồn nhiên, vui vẻ, cởi mở, cho nên việc truyền đạo cho họ là một điều dễ dàng và có lẽ còn hữu hiệu hơn cho người Châu Âu. Nên biết nhiều người đã xem thế giới Thiên Chúa Giáo của họ đã tha hóa tột độ và nhiều giáo sĩ Tây Ban Nha nghĩ rằng các dân tộc hồn nhiên ở Tân Thế Giới đã chín mùi để đón nhận Thiên Chúa Giáo dưới dạng Tân Ước.". (1)
Trong những thế kỷ về sau các nhà truyền đạo cũng nghĩ về Phi Châu như vậy. Nhưng người Tây Ban Nha có hai quan điểm cực đoan trái ngược nhau về các dân tộc mà họ cho là man rợ. Họ hoặc là cho đó là biểu tượng của một con người cao quí hoặc là một con người bần tiện. Sự dằn co giữa hai quan điểm đó tiếp diễn khi người Âu Tây bắt đầu thám hiểm vùng nam Thái Bình Dương vào thế kỷ thứ 18. "Việc khám phá ra đảo Tahiti là nơi thổ dân sống khỏa thân và làm tình công khai không chút hổ thẹn một lần nữa có vẻ như xác nhận khái niệm của người Âu Tây về một khu vườn Địa Đàng nơi con người chưa bị sa ngã.". (3)
Tahiti có khi hậu ôn hòa, thổ dân no đủ mà không cần phải canh tác quần quật.
Thế thì dưới con mắt của người Âu Tây trong thế kỷ thứ 18 Tahiti có phải là một thiên đường dưới thế hay không?
"Dân Tahiti thân thiện, có dáng dấp đẹp và khỏe mạnh. Xã hội Tahiti có phân chia thành giai cấp, tức là có một trật tự chính trị. Họ cũng có vua, có hàng lãnh chúa và giáo sĩ, nhưng thường dân không nghèo đói. Theo tôi cuộc sống của một người Tahiti bình thường có lẽ còn tốt hơn một người Âu bình thường thời đó.". (4)
Thế thì ai cần đến văn minh Âu Tây?
Có lẽ đó là một câu hỏi hơi bị thừa. Đối với những thủy thủ Âu Tây vừa đặt chân lên đất Tahiti sau nhiều tháng bị giam hãm trên các con tàu, đầu gối còn run, mắt còn hoa, thì lại được những thiếu nữ Tahiti khêu gợi xúm xít, vuốt ve, mời chào họ làm tình, thật là một cú sốc văn hóa rất nặng.
Người Âu Tây đầu tiên đặt chân lên đảo Tahiti là một nhà thám hiểm người Anh, thuyền trưởng James Cook. Nhưng không như những thủy thủ dưới quyền, sau cú sốc đầu tiên James Cook đã phục hồi được bình tĩnh để nhận định tình hình. "Trong những bài viết về sau này ông Cook đã tìm cách hóa giải cái ấn tượng về tư do luyến ái tại Tahiti. Ông nhấn mạnh rằng những người đàn bà Tahiti làm tình tự nhiên với thủy thủ Âu Tây hầu hết đều thuộc giai cấp bình dân. Trong tầng lớp trung lưu và quí tộc Tahiti không hề có chuyện đó. Thuyền trưởng Cook đã viết như thế này: "Thật bất công khi ta phê phán cả một dân tộc dựa trên những chung chạ xảy ra trên bờ biển này. Vì làm như vậy thì chẳng khác nào phê phán toàn thể phụ nữ Anh dựa vào những gì ta thấy diễn ra ở phố Strand hay những nơi tương tự.". Cố nhiên đó là những nơi hành nghề của chị em ta ở Luân Đôn vào thời đó.". (4)
Thật đáng tiếc là phố Strand ngày nay không còn là phố Strand của thế kỷ thứ 18, cho nên thật khó lòng kiểm chứng được sự so sánh vừa kể của thuyền trưởng James Cook.
Dù là một thực dân ngoại hạng thuyền trưởng Cook đã có những nhận xét rất sáng suốt về hậu quả của sự xâm nhập của người Âu Tây vào Tahiti. Chẳng hạn như ông lo là truyền thống và kiến thức cổ truyền của dân bản xứ sẽ bị mai một. Và ông Cook còn nhìn nhận là cũng như tại Mỹ Châu, người Âu không chỉ mang đến cho thổ dân những tiến bộ kỷ thuật mà còn bệnh tật, rượu chè và vũ khí.
Từ thế kỷ thứ 16 cho đến thế kỷ thứ 18 những thành quả vĩ đại của văn minh Âu Châu đã bị lu mờ khi họ nô lệ hóa những dân tộc chậm tiến hơn. Tồi tệ nhất là việc buôn bán người da đen Phi Châu. Trong quá trình đó Phi Châu không những mất đi phần lớn nguồn lao động mà còn phải chịu cảnh chinh chiến bạo động. Cũng như trong những nỗ lực thuộc địa hóa trước đó, người Âu Tây cũng muốn tìm một cơ sở đạo lý cho hành động nô lệ hóa đồng loại của họ. "Người Âu Tây thì bao giờ cũng có những trăn trở về đạo đức trong việc buôn bán nô lệ. Chẳng hạn như họ quan tâm đến việc đối xử với nô lệ và suy nghĩ xem việc bắt con người làm nô lệ như vậy có chính đáng hay không. Nói chung người Tây Âu không chấp nhận việc bắt người đồng đạo Ki Tô làm nô lệ, nhưng cho đến cuối thế kỷ thứ 17 thì họ vẫn xem chế độ nô lệ là chính đáng và chỉ quan tâm đến những chi tiết trong hoạt động đó mà thôi. Mãi cho đến thế kỷ thứ 18 ta mới thấy bắt đầu có người chống lại việc buôn bán nô lệ trên nguyên tắc.". (5)
Anh Quốc là cường quốc đầu tiên hủy bỏ chế độ buôn bán nô lệ, tuy trước đó người Anh cũng là những tay buôn bán nô lệ tàn nhẫn không thua kém ai. Những người Anh đạo đức đã tranh đấu để hủy bỏ chế độ này, và họ dần dần thắng thế vì lúc này người Anh đã bắt đầu nhận thức được rằng một Phi Châu tự do phồn thịnh sẽ là một thị trường rất tốt cho hàng hóa của Anh. Từ đầu thế kỷ thứ 19 người Anh đã nổ lực ngăn chặn chuyện buôn bán nô lệ như thể họ muốn chuộc tội cho thế hệ cha ông của họ. Điều oái oăm là các tộc trưởng Phi Châu vốn bấy lâu nay đã thủ lợi nhờ buôn bán nô lệ, nay chống lại nỗ lực chấm dứt hoạt động này. "Đặc biệt là chính phủ Anh kể từ năm 1840 trở đi, ngày càng dùng nhiều áp lực quân sự và ngoại giao để ép buộc các lãnh tụ Phi Châu phải ngưng buôn bán nô lệ. Trong quá trình đó người Anh ngày càng cho là họ cần phải xây dựng lại các xã hội Phi Châu theo khuôn mẫu của họ.". (5)
Người Anh cho là họ phải cần áp đặt một chính quyền của đế quốc Anh thì mới mong thực hiện được cái mà họ cho là văn minh hóa đó. Nhưng đằng sau ý tưởng đó là đầu óc kỳ thị chủng tộc ngày càng gia tăng. "Từ giữa thế kỷ 19 trở đi người Tây Âu cho rằng văn hóa là sản phẩm của chủng tộc. Tức là họ cho rằng người Phi Châu vốn bẩm sinh đã chậm tiến về văn hóa thì sẽ không thể nào hấp thụ được văn hóa Châu Âu. Tôi cho rằng ý tưởng này đã đưa đến đế quốc chủ nghĩa vào cuối thế kỷ thứ 19.". (5)
Tahiti có khi hậu ôn hòa, thổ dân no đủ mà không cần phải canh tác quần quật.
Thế thì dưới con mắt của người Âu Tây trong thế kỷ thứ 18 Tahiti có phải là một thiên đường dưới thế hay không?
"Dân Tahiti thân thiện, có dáng dấp đẹp và khỏe mạnh. Xã hội Tahiti có phân chia thành giai cấp, tức là có một trật tự chính trị. Họ cũng có vua, có hàng lãnh chúa và giáo sĩ, nhưng thường dân không nghèo đói. Theo tôi cuộc sống của một người Tahiti bình thường có lẽ còn tốt hơn một người Âu bình thường thời đó.". (4)
Thế thì ai cần đến văn minh Âu Tây?
Có lẽ đó là một câu hỏi hơi bị thừa. Đối với những thủy thủ Âu Tây vừa đặt chân lên đất Tahiti sau nhiều tháng bị giam hãm trên các con tàu, đầu gối còn run, mắt còn hoa, thì lại được những thiếu nữ Tahiti khêu gợi xúm xít, vuốt ve, mời chào họ làm tình, thật là một cú sốc văn hóa rất nặng.
Người Âu Tây đầu tiên đặt chân lên đảo Tahiti là một nhà thám hiểm người Anh, thuyền trưởng James Cook. Nhưng không như những thủy thủ dưới quyền, sau cú sốc đầu tiên James Cook đã phục hồi được bình tĩnh để nhận định tình hình. "Trong những bài viết về sau này ông Cook đã tìm cách hóa giải cái ấn tượng về tư do luyến ái tại Tahiti. Ông nhấn mạnh rằng những người đàn bà Tahiti làm tình tự nhiên với thủy thủ Âu Tây hầu hết đều thuộc giai cấp bình dân. Trong tầng lớp trung lưu và quí tộc Tahiti không hề có chuyện đó. Thuyền trưởng Cook đã viết như thế này: "Thật bất công khi ta phê phán cả một dân tộc dựa trên những chung chạ xảy ra trên bờ biển này. Vì làm như vậy thì chẳng khác nào phê phán toàn thể phụ nữ Anh dựa vào những gì ta thấy diễn ra ở phố Strand hay những nơi tương tự.". Cố nhiên đó là những nơi hành nghề của chị em ta ở Luân Đôn vào thời đó.". (4)
Thật đáng tiếc là phố Strand ngày nay không còn là phố Strand của thế kỷ thứ 18, cho nên thật khó lòng kiểm chứng được sự so sánh vừa kể của thuyền trưởng James Cook.
Dù là một thực dân ngoại hạng thuyền trưởng Cook đã có những nhận xét rất sáng suốt về hậu quả của sự xâm nhập của người Âu Tây vào Tahiti. Chẳng hạn như ông lo là truyền thống và kiến thức cổ truyền của dân bản xứ sẽ bị mai một. Và ông Cook còn nhìn nhận là cũng như tại Mỹ Châu, người Âu không chỉ mang đến cho thổ dân những tiến bộ kỷ thuật mà còn bệnh tật, rượu chè và vũ khí.
Từ thế kỷ thứ 16 cho đến thế kỷ thứ 18 những thành quả vĩ đại của văn minh Âu Châu đã bị lu mờ khi họ nô lệ hóa những dân tộc chậm tiến hơn. Tồi tệ nhất là việc buôn bán người da đen Phi Châu. Trong quá trình đó Phi Châu không những mất đi phần lớn nguồn lao động mà còn phải chịu cảnh chinh chiến bạo động. Cũng như trong những nỗ lực thuộc địa hóa trước đó, người Âu Tây cũng muốn tìm một cơ sở đạo lý cho hành động nô lệ hóa đồng loại của họ. "Người Âu Tây thì bao giờ cũng có những trăn trở về đạo đức trong việc buôn bán nô lệ. Chẳng hạn như họ quan tâm đến việc đối xử với nô lệ và suy nghĩ xem việc bắt con người làm nô lệ như vậy có chính đáng hay không. Nói chung người Tây Âu không chấp nhận việc bắt người đồng đạo Ki Tô làm nô lệ, nhưng cho đến cuối thế kỷ thứ 17 thì họ vẫn xem chế độ nô lệ là chính đáng và chỉ quan tâm đến những chi tiết trong hoạt động đó mà thôi. Mãi cho đến thế kỷ thứ 18 ta mới thấy bắt đầu có người chống lại việc buôn bán nô lệ trên nguyên tắc.". (5)
Anh Quốc là cường quốc đầu tiên hủy bỏ chế độ buôn bán nô lệ, tuy trước đó người Anh cũng là những tay buôn bán nô lệ tàn nhẫn không thua kém ai. Những người Anh đạo đức đã tranh đấu để hủy bỏ chế độ này, và họ dần dần thắng thế vì lúc này người Anh đã bắt đầu nhận thức được rằng một Phi Châu tự do phồn thịnh sẽ là một thị trường rất tốt cho hàng hóa của Anh. Từ đầu thế kỷ thứ 19 người Anh đã nổ lực ngăn chặn chuyện buôn bán nô lệ như thể họ muốn chuộc tội cho thế hệ cha ông của họ. Điều oái oăm là các tộc trưởng Phi Châu vốn bấy lâu nay đã thủ lợi nhờ buôn bán nô lệ, nay chống lại nỗ lực chấm dứt hoạt động này. "Đặc biệt là chính phủ Anh kể từ năm 1840 trở đi, ngày càng dùng nhiều áp lực quân sự và ngoại giao để ép buộc các lãnh tụ Phi Châu phải ngưng buôn bán nô lệ. Trong quá trình đó người Anh ngày càng cho là họ cần phải xây dựng lại các xã hội Phi Châu theo khuôn mẫu của họ.". (5)
Người Anh cho là họ phải cần áp đặt một chính quyền của đế quốc Anh thì mới mong thực hiện được cái mà họ cho là văn minh hóa đó. Nhưng đằng sau ý tưởng đó là đầu óc kỳ thị chủng tộc ngày càng gia tăng. "Từ giữa thế kỷ 19 trở đi người Tây Âu cho rằng văn hóa là sản phẩm của chủng tộc. Tức là họ cho rằng người Phi Châu vốn bẩm sinh đã chậm tiến về văn hóa thì sẽ không thể nào hấp thụ được văn hóa Châu Âu. Tôi cho rằng ý tưởng này đã đưa đến đế quốc chủ nghĩa vào cuối thế kỷ thứ 19.". (5)
Năm 1897 quân Anh xâm lăng và cướp bóc vương quốc Benin ở Tây Phi, nay thuộc Nigeria để trả thù cho những người Anh không vũ trang bị người Benin giết. Người Anh biện minh cho hành động dã man đó bằng cách gọi Benin là "Thành Phố Máu", nơi họ cho là có tập tục giết người để tế thần, cho nên cần phải bị trừng trị. Về sau người ta mới biết đó là một vu cáo. Trong cuộc cướp bóc thành phố Benin người Anh đã thu được một số đồ thanh đồng đẹp và tinh vi không kém gì đồ thanh đồng của Ý thời Phục Hưng. Sự việc này khiến cho một số người băn khoăn về khái niệm man rợ và văn minh của họ. Bỡi vì đối với họ mỹ thuật và văn minh liên kết với nhau. Nhưng rồi họ kết luận xã hội Benin vào cuối thế kỷ thứ 19 là một nền văn minh đã tha hóa tột cùng. Cho nên sự băn khoăn đó không ảnh hưởng gì đến thái độ tự kiêu của đế quốc Anh thời đó. Đây cũng là lúc mà các cường quốc Âu Tây đã dùng công cuộc truyền đạo Thiên Chúa như là một phần của công trình thuộc địa hóa các xứ chậm tiến. "Người Tây Âu cho rằng một khi người Phi trở thành con chiên Thiên Chúa Giáo thì họ sẽ biết đọc, biết viết và họ sẽ được hiện đại hóa để tham gia vào nền kinh tế tư bản toàn cầu. Thời đó người ta liên kết Thánh Kinh và lưỡi cày hay thương mại rồi Thiên Chúa Giáo và văn minh. Rồi có những khẩu hiệu kêu gọi dân bản xứ theo Thiên Chúa Giáo như là một phần của kế hoạch đồng hóa theo giá trị của Châu Âu.". (5)
Nơi đây ta so sánh các chủ nghĩa đế quốc trong thế kỷ thứ 16 nhằm tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến nền văn minh. Trong bối cảnh đó người Tây Ban Nha đã bị lịch sử phê phán khắc khe về cách đối xử tàn ác với dân bản xứ khi họ chiếm Mexico và Peru làm thuộc địa. "Chính vì họ là những người đi tiên phong trong công cuộc chiếm thuộc địa, người Tây Ban Nha phải tự tìm ra cách đối xử với những dân tộc bản xứ và đánh giá họ về mức độ văn minh. Trong quá trình đó đúng là người Tây Ban Nha đã tỏ ra tàn bạo và dã man hơn cả những dân tộc mà họ chinh phục.". (1)
Nhưng những chỉ trích nhắm vào Tây Ban Nha cũng có thể áp dụng cho các đế quốc Âu Tây khác trong đó có Anh Quốc. Nhưng dần dần trong xã hội Âu Tây đã xuất hiện những người chủ trương phát huy Nhân Bản. Họ cố gắng tìm ra một cách nào đó hợp lý, khoan dung, thông minh và văn minh hơn để cuộc gặp gỡ giữa dân Âu Tây và những dân tộc khác trở nên hòa hợp hơn.
Nhưng những chỉ trích nhắm vào Tây Ban Nha cũng có thể áp dụng cho các đế quốc Âu Tây khác trong đó có Anh Quốc. Nhưng dần dần trong xã hội Âu Tây đã xuất hiện những người chủ trương phát huy Nhân Bản. Họ cố gắng tìm ra một cách nào đó hợp lý, khoan dung, thông minh và văn minh hơn để cuộc gặp gỡ giữa dân Âu Tây và những dân tộc khác trở nên hòa hợp hơn.
Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Giáo Sư John Eliot - Đại học Oxford
(2) Anthony Padden - Đại học Cambridge
(3) Học giả Neil Rainny - Đại học Luân Đôn
(4) Giáo sư Nicolas Thomas - Đại học Quốc gia Úc
(5) Giáo sư Robin Lown - Đại học Stirling
Hình minh họa nguồng internet
