2 Jul 2009

(10) Văn Minh Ý Thời Phục Hưng

"Nước Anh chậm tiến của ta vẫn còn làm trò khỉ, tập tễnh bắt chước nước Ý kiêu hãnh..." Đó là lời của một Công tước Anh đã thốt lên trong vở kịch Richard II của William Shakespeare, kịch gia vĩ đại nhất của nước Anh. Shakespeare dù đã sống đến thế kỷ thứ 17 vẫn được xem như là người của thời đại Phục Hưng, tức là Renaissance. Vở Richard II lấy bối cảnh cuối thế kỷ thứ 14 khi nước Anh vẫn còn lạc hậu và nền móng của các cơ sở trí thức của giai đoạn Phục Hưng đã được người Ý bắt đầu xây dựng.

                           
                                         Bức họa nổi tiếng "Judith" của Titian

Trong lịch sử nhân loại, ý tưởng về Văn Minh có quan hệ mật thiết với đời sống và sự phồn vinh của đô thị. Thời Phục Hưng của Châu Âu thêm một lần nữa đã chứng minh điều này. Thời đó, so với các nước Châu Âu khác, tiến trình đô thị hóa của Ý đã tiến xa hơn, và Ý đã có tỷ lệ dân sống ở thành thị cao hơn các nước Châu Âu khác. Và ngay từ thế kỷ thứ 13 dân thị tứ ngưới Ý đã nghĩ ra được nhiều cách làm giàu. Họ cải tiến cách giao dịch bằng tiền với những hệ thống kế toán tốt hơn từ những cách thức thu vốn để đầu tư.

Trong số các thành phố thì Florence hay tiếng Ý gọi là Firenze ở miền Trung là nơi phồn thịnh nhất. "Florence đặc biệt là ở chỗ nó có một nền kinh tế rất đa dạng. Không như thành phố Venice chỉ chuyên bán buôn các gia vị. Không như thành phố Milan chỉ là một trung tâm sản xuất võ khí và phân phối hàng hoá. Florence có cơ sở công nghiệp rất mạnh. Florence là một trung tâm lớn về dệt nhưng cũng có nhiều hoạt động kinh tế khác. Có nhiều nhà thương mại trong kỷ nghệ dệt cũng như trong lĩnh vực ngân hàng. Điều đó đã khiến cho Florence trở thành một thành phố đặc biệt có thể nuôi dưỡng nhiều kỷ năng và kiến thức.". (1)

Ngoài phát triển kinh tế Florence còn là nơi diễn ra một sự bùng nổ kỳ diệu về nghệ thuật cũng như về tư duy khiến cho Châu Âu trở thành nơi đã chứng kiến những canh tân quan trọng về vật chất lẫn tinh thần trên thế giới. Cho nên thời đại hoàng kim này được gọi là Renaissance. Trong tiếng Pháp "Renaissance" có nghĩa là "Tái Sinh" và tiếng Việt gọi là Phục Hưng. Giới học giả chuyên về nhân văn của thời này đã nghiên cứu hai nền văn minh cổ La Mã và cổ Hy Lạp. Và qua những công trình nghiên cứu đó họ đã làm sống lại những gì tinh túy của văn minh Hy-La. Những Nhân Văn Học Giả này cho rằng văn minh phương Tây đã suy thoái trong những thế kỷ khi Ki Tô Giáo đã hoàn toàn áp đảo nền văn hóa La Mã, nhưng chính họ cũng theo đạo Ki Tô. 

Thế thì trong công trình phục hưng văn minh Cổ Đại, làm sao họ dung hòa tín ngưỡng của họ với cái mà họ cho là mê tín dị đoan của thời trước? 

"Giới thức giả nhân văn của Ý đã vận dụng nhiều cách để giải quyết nghịch lý tín ngưỡng này. Một mặt họ cho rằng ta có thể khám phá ra sự hiện hữu của Thượng Đế bằng lý trí và Thượng Đế thực sự chỉ muốn được tôn thờ mà không mấy quan tâm đến nghi thức. Từ đó họ kết luận rằng mọi tín ngưỡng đều tốt, thành ra phải có thái độ bao dung với những tôn giáo khác. Mặt khác họ cho là các nhà hiền triết thời xưa cuối cùng đã tìm đến được chân lý của Ki Tô Giáo sau một quá trình chiêm nghiệm để đi đến giác ngộ.". (2)

Dù bằng cách nào chăng nữa sự dung hợp giữa nhũng giá trị phiếm thần và Ki Tô Giáo trong thời đại Phục Hưng đã tạo nên cho Châu Âu một cơ sở văn hóa tồn tại qua nhiều thế kỷ. Như vậy giới nhân văn đã tạo ra một bàn đạp giúp Châu Âu trong thế kỷ 16 tiến được những bước mà văn minh Hy-La chưa từng đạt tới. Petrarch là Nhà Nhân Văn đầu tiên của thành Florence sống vào thế kỷ thứ 14. Ông là một học giả Latin uyên thâm và là một thi hào của Ý. Ông là người đã tìm hiểu về người cổ La Mã một cách sâu sắc hơn cả. "Petrarch xem xét tỉ mỉ mọi chuyện trước khi viết lại, và ông dùng những sự kiện do một tác giả cổ đại để lại để kiểm chứng những gì đến từ một tác giả cổ đại khác, và qua đó ông có thể xác minh những gì đã thật sự xảy ra. Không như những người cùng thời, Petrarch nhận thức được là có một sự khác biệt thật sự giữa thế giới cổ đại và nước Ý vào thế kỷ thứ 14. Ông biết là bánh xe lịch sử đã lăn xa rồi.". (3)

Trên phương diện nghiên cứu thời Cổ Đại, Petrarch đã chứng tỏ ông có đầu óc phân tích rất hiện đại. Và tính hiện đại của Petrarch cũng đã được thể hiện qua một khía cạnh khác. "Toàn bộ tác phẩm của Petrarch có thể nói là có tính tự truyện theo một nghĩa nào đó. Đó là một thể loại phát nguồn từ thời Thánh Augustine, người viết tự truyện lớn vào giai đoạn cuối thời Cổ Đại, người đã nổi tiếng với cuốn" Những Lời Thú Tội" kể lại cuộc đời của một thanh niên sa vào vòng trụy lạc, ăn chơi trác táng để rồi trở lại con đường chính thiện. Câu chuyện về cuộc đời Petrarch cũng tương tự như vậy và ông ta cố gắng tuân thủ thể loại tự truyện vốn đòi hỏi một sự tự ý thức rất cao. Đó là một điều hiếm thấy trong thời đại của Petrarch. Tôi cho tự ý thức là một phần cần thiết của quan niệm hiện đại về con người.". (3)

Trong những thế kỷ trước thời Phục Hưng chỉ có Thượng Đế là quan trọng và các vị Thánh là khuôn mẫu để người ta noi theo. Nhưng trong thời Phục Hưng con người lại trở thành trung tâm như trong thời cổ La Mã. Và người Ý đã theo gương người La Mã để tôn vinh những ai đã đạt được những thành tích lẫy lừng. Đối với người Ý trong thời Phục Hưng, muốn thành công trong lãnh vực nào thì phải bắt chước vĩ nhân Hy-La trong lãnh vực đó. Nhiều danh nhân thời đó xuất thân từ Florence, và vào thế kỷ thứ 15 Florence vẫn tiếp tục đi trước trong nhiều lĩnh vực. "Khoảng 1/4 đàn ông Florence có một vai trò nào đó trong chính trường. Nhiều người trong số này đến từ khoảng 200-300 gia đình giàu có. Đây là số lượng khá đông những người bảo trợ cho Văn Chương và Nghệ Thuật của Florence vào thế kỷ thứ 15. Thời đó, chính khách Florence muốn tăng uy tín của họ trong xã hội bằng cách tỏ ra là có đóng một vai trò trong đời sống văn hóa và tri thức. Thành ra Florence đã có một quan hệ mật thiết giữa chính trị cởi mở và nghệ thuật thành công.". (1)

Nhưng dù vừa giàu vừa giỏi Florence đã không duy trì được ổn định chính trị một cách lâu dài. Cũng may là chiến tranh và xáo trộn không phải lúc nào cũng là kẻ thù của văn minh. "Tình trạng chinh chiến thúc đẩy việc viết sử, đôi khi còn kích thích văn chương nghệ thuật, ví dụ như Florence đã thuê Leonardo và Michelangelo để trang trí phòng hội của Đại Hội Đồng thành phố. Hai nhà danh họa này đã vẽ lên những hình ảnh mô tả những giai đoạn của cuộc chiến giữa Florence và Pisa để động viên lòng trung thành của dân chúng. Trên một khía cạnh nào đó ta có thể biện luận rằng chiến tranh và bất ổn là kích thích quan trọng trong nhiều thành quả của thời Phục Hưng.". (4)

Tai biến chính trị cũng còn kích thích việc viết sử. "Một thí dụ nổi bật là khi Pháp xâm lược Ý vào năm 1494 người Ý cảm thấy bất lực trước sức mạnh của quân thù. Họ muốn biết Ý đã sai lầm như thế nào đến nỗi bị chinh phục như vậy. Để tìm lý do của tấn bi kịch đó Francesco Guicciardini đã soạn ra cuốn "Lịch Sử Nước Ý" mô tả công cuộc lập quốc của toàn bộ bán đảo Ý sau năm 1494. Công trình biên soạn đó khiến người ta xem ông là một sử gia vĩ đại nhất của thời Phục Hưng.". (2)

Một sử gia người Florence nổi tiếng khác vào đầu thế kỷ thứ 16 là Niccolo Machiavelli. Ông ta cũng nghiên cứu các tác giả cổ La Mã một cách tường tận. Và cuốn sách nổi tiếng của Machiavelli mang tựa đề "Sứ Quân" nói đến chính trị thời đó. Những thủ đoạn tranh thủ quyền lực được mô tả trong "Sứ Quân" đã từng gây chấn động cho người đọc. Tại sao vậy? "Trong "Sứ Quân" Machiavelli nói rõ ra rằng nếu muốn thành công, một giáo chủ hay một nhà lãnh đạo chính trị cần phải vô lương tâm, phải gian trá, phải biết nuốt lời hứa và còn phải biết tùy cơ để ứng xử tàn bạo hay là nhân hậu. Cố nhiên từ trước tới giờ đạo đức của người lãnh đạo bao giờ cũng bị thủ đoạn chính trị chi phối, nhưng trước Machiavelli thì không có ai nói huỵt toẹt ra rằng muốn duy trì quyền lực thì người lãnh đạo phải hy sinh những giá trị cơ bản của con người.". (4)

Điều đáng chú ý là Machiavelli không coi quân quyền là một cái gì đó thiên định mà là một thành quả của thủ đoạn chính trị. Quan điểm này đã làm cho các sứ quân thời đó cũng như Đức Giáo Hoàng tức giận. Tư tưởng của Machiavelli đã gây xáo động vì ông ta đã dám đả phá những tuyên truyền mỹ hóa giai cấp thống trị, hoặc là những ảo tưởng về chính trường. Ngày nay tên ông ta còn được dùng như là một tính từ trong ngôn ngữ phương Tây để mô tả những hành động thủ đoạn khôn ranh trong chính trị. Dù có đồng ý hay không với Machiavelli ta cũng phải công nhận là việc phân tích mặt trái của chính trị là một tiến bộ lớn trong tư duy của thời Phục Hưng. Người Florence cũng trọng đầu óc biết suy nghĩ độc lập. Họ nghiên cứu luật pháp La Mã và đã khám phá được nhiều điều bất ngờ. "Thoạt đầu người Florence muốn áp dụng luật La Mã, nhưng để thấu đáo được những văn bản cổ họ phải dựng lại những bối cảnh văn hóa xã hội chính trị của thời cổ La Mã. Và vào khoảng giữa thế kỷ 16 họ đã đi đến kết luận rằng họ không nên bắt chước luật La Mã, mà nên soạn ra luật mới dựa trên các tập tục địa phương.". (2)

Vào thời đại này tại Đông Âu, một nơi cách nước Ý rất xa Nhà Thiên Văn Copernicus đã trở thành người đầu tiên chứng minh được rằng Quả Đất quay chung quanh Mặt Trời. Ngày nay thì ta xem đó là kiến thức khá sơ đẳng, nhưng trong thời buổi mà ai ai từ thuở cha sinh mẹ đẻ đều tin là Mặt Trời xoay chung quanh Quả Đất vì nó mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, thì phát kiến của Copernicus quả là có tính cách mạng. Và Copernicus đã tỏ vẻ can đảm khi ông ta dám đi ngược dòng kiến thức thời thượng bằng một suy luận có tính cách thuần túy khoa học, đó là một tư duy rất văn minh.

                         
                              Nikolaus Copernicus (1473-1543)

Trong khi đó những lãnh vực khác cũng đã chứng kiến những tiến bộ vượt bật. "Về cơ thể học, các học giả thời Phục Hưng cho thấy thế hệ trước đã mắc phải nhiều ngộ nhận. Họ cho in một cuốn sách nổi tiếng nhất về môn này của thế kỷ 16, đánh dấu một sự đột phá trong nghiên cứu về cơ thể con người. Một điều khá lý thú là cũng như Copernicus, các nhà Cơ Thể Học này cũng có vẻ rất dè dặt, thậm chí ngượng ngùng khi họ phải nói là "người xưa đã sai". Khi đưa ra những phát kiến mới họ cũng rào trước đón sau hết sức kỹ lưỡng.". (2)


Cơ Thể Học là một gạch nối giữa Khoa Học và Mỹ Thuật, bỡi vì càng hiểu rõ cấu trúc cơ thể bao nhiêu thì ta có thể tạo hình con người tốt hơn bấy nhiêu. Nghệ nhân vĩ đại của Florence: Leonardo da Vinci, đã từng nghiên cứu Cơ Thể Học, nhưng dây chỉ là một trong nhiều ngón nghề của ông ta như là Điêu Khắc, Kiến Trúc, Hội Họa, Toán Học và Ca Nhạc. Leonardo đa tài là biểu tượng của con người Phục Hưng. Ngày nay chữ Renaissance vẫn còn được dùng để mô tả một con người xuất sắc trong tất cả mọi lãnh vực. Nhưng ngay cả trong thời Phục Hưng, nhân tài như Leonardo cũng rất hiếm và họ được trọng vọng như những thiên tài. Chẳng hạn như họa sĩ Titian, nhà điêu khắc Michelangelo mà ảnh hưởng của họ trong lĩnh vực mỹ thuật còn vang vọng mãi cho đến ngày nay.

                          
                  Tượng David bằng đá hoa cương, kỉệt tác điêu khắc cúa Michelangelo


Cố nhiên không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành một Leonardo hay một Michelangelo. Nhưng nguời thời Phục Hưng tin rằng ai ai cũng có thể học hỏi để trở thành một con người lịch lãm. "Con người lịch lãm phải biết ăn nói lịch thiệp và văn vẻ, phải biết chút ít hội họa, biết khiêu vũ, biết hát, phải giỏi cưỡi ngựa và biết cách ăn mặc lịch sự. Anh ta phải có đầu óc bén nhạy và trào phúng. Đó là những đòi hỏi cao cấp để giao du thành công trong xã hội.". (4)

Đó là những giá trị vẫn còn được trọng vọng cho đến ngày nay. Như vậy, quan niệm về phong cách lịch lãm là một phần trong quan niệm của thời Phục Hưng về văn minh. Dần dà người Ý đã xây dựng lên các định chế về Nhà Nước, Luật Pháp, Tôn Giáo, Giáo Dục...vv. Mọi nỗ lực đều nhằm phát huy tính lịch sự trong cuộc sống đô thị. "Tôi nghĩ từ thế kỷ 16 phép lịch sự đã được liên kết với tinh thần đạo đức. Lịch sự có nghĩa là văn minh, tức là tương phản với man rợ. Người thời Phục Hưng xem man rợ không chỉ có nghĩa là lạc hậu, hay quê mùa, mà còn nói đến những xứ kém văn minh bên ngoài đang đe dọa đến sự sống còn của nước Ý, như những đạo quân đánh thuê người Đức hung dữ, hay người Thổ sau khi thôn tính miền Đông Địa Trung Hải và đang dòm ngó miền Nam của nước Ý.". (4)

Lính đánh thuê người Đức đã nổi loạn và đã làm cỏ thành phố Rome năm 1527. Tuy bị người Ý khinh rẻ, người Đức sau khi đến Ý cũng đã mang về nước họ một số giá trị của thời Phục Hưng. Một phát minh về in ấn của người Đức đã đóng góp nhiều cho thời đại Phục Hưng. Nghề in thật sự đã được Trung Quốc phát minh từ lâu, nhưng tại Châu Âu thì công nghiệp này chỉ bắt đầu khi người Đức khởi sự làm những con chữ rời từ giữa thế kỷ thứ 15 trở đi.

Trong thế kỷ thứ 16 khi Venice bắt đầu vượt Florence như là trung tâm văn hóa, một phần cũng là do Venice lúc ấy đã trở thành thủ đô của nghề in tại Ý nhờ có hải cảng tốt có thể chuyển sản phẩm in ấn đi khắp Châu Âu. Vị trí tiếp giáp miền Đông Địa Trung Hải càng khiến cho Venice trở nên quan trọng hơn cho sự phát triển nền văn minh Phục Hưng. Nhất là khi người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm thành Constantinople vào năm 1453 khiến cho người Hy Lạp ở đó phải chạy đến Venice lánh nạn. Và nhờ đó Venice lại tiếp cận thêm văn minh cổ Hy Lạp, đồng thời trở thành một cữa ngõ của Ý để đi sang Constantinople lúc bấy giờ trở thành một thủ đô mới của đế quốc Ottoman. Từ đó văn minh Ý đã có thêm ảnh hưởng Hồi Giáo. "Việc này ảnh hưởng đến sự nghiệp của những nghệ nhân lớn, tỷ dụ như Gentile Bellini được Mehmed II tại Constantinople triệu vời để họa chân dung của vua sau khi Ottoman buộc Venice phải ký một Hòa Ước nhục nhã. Từ đó người Venice du hành sang phương Đông rất nhiều. Họ biết thưởng thức kiến trúc Hồi Giáo và đặc biệt các loại hàng dệt và kim loại của Hồi Giáo. Ta có thể cho rằng cái phong vị của Venice, đặc biệt là cách trang trí nội thất cho các tòa lâu đài của họ với những tấm thảm rực rỡ của Đông phương là do ảnh hưởng của Hồi Giáo.". (5)

Một trung tâm văn hóa lớn khác của Ý là Roma. Có thể nói là các Đức Giáo Hoàng không những là lãnh tụ tinh thần của toàn thể Châu Âu mà còn là thành phần bảo trợ nghệ thuật lớn nhất. Tuy là giáo sĩ các vị Giáo Hoàng cũng tổ chức cung đình huy hoàng chẳng khác gì vua chúa Châu Âu. "Các Giáo Hoàng và một số lớn các Hồng Y cũng tìm cách biểu dương uy thế qua những đền đài đồ sộ. Họ tổ chức những lễ lạc linh đình và thuê các nghệ nhân tên tuổi quốc tế để đóng góp vào những công trình mỹ thuật. Và có lẽ họ cũng chẳng nghĩ gì nhiều đến chuyện làm sao để có thể tiếp tục nắm giữ quyền lực.". (1)

Văn minh cũng như đồi trụy của cổ La Mã cũng đã ảnh hưởng đến các Giáo Hoàng. Nên biết là có những Giáo Hoàng trở nên khét tiếng vì những thói hư tật xấu. Chính sự tha hóa về đạo đức của các Giáo Hoàng đó đã đưa đến phản ứng tại Đức. "Lúc bấy giờ ở Đức đã có một sự bùng nổ rất lớn của lòng mộ đạo, và người Đức muốn có một tiêu chuẩn tôn giáo nghiêm túc hơn trong đời sống. Khuynh hướng đạo đức của người Đức tăng cao đến độ mà họ cho rằng người Ý là loại người quá phù phiếm. Chắc chắn người Đức muốn có một sự cải tổ nào đó trong giáo hội Công Giáo.". (6)

Nghề in đã trở nên một động lực lớn thúc đẩy cải cách. Nhất là vào lúc đó Thánh Kinh cũng được in bằng tiếng Đức chứ không phải chỉ bằng tiếng Latin như trước. Hậu quả là có một tình trạng "trăm hoa đua nở" trong văn chương tôn giáo bằng tiếng Đức mà trên hết là quá trình phát triển Thánh Kinh bằng tiếng Đức. Ước muốn cải tổ của người Đức đã nổ bùng ra vào đầu thế kỷ thứ 16 khi Martin Luther viết bài phản đối Giáo Hội La Mã. Đó chính là nguồn gốc của cái tên Protestant mà ngày nay tiếng Việt gọi là "Tin Lành". Thông điệp của Martin Luther đã dẫn đến một sự chia rẽ khổng lồ bên trong Thiên Chúa Giáo. Phong trào cải cách mang tên Tin Lành đã đưa đến đổ máu giữa người Tin Lành và người Thiên Chúa Giáo La Mã. Nhưng tác động của nó là giải phóng vùng Bắc Âu và, cùng với ảnh hưởng của nước Ý thời Phục Hưng, đã tạo ra một cao trào văn hóa tại Bắc Âu.

Kịch gia Shakespeare của Anh là một phần của cao trào đó. Và trong vở kịch Hamlet nổi tiếng nhất của ông, hoàng tử Hamlet đã thốt lên một câu mô tả con người như là một sáng tạo tinh hoa nhất trong vạn vật:

"...Ôi con người, công trình tuyệt diệu của Tạo Hóa, trí tuệ cao siêu, khả năng vô bờ, thân hình tuyệt mỹ, dáng vóc tựa thiên thần, thông minh như thánh sống..."

Đó là một ý tưởng mang đầy tính chất Phục Hưng.

Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Giáo sư Micheal Mallen - Đại học Warwick
(2) Giáo sư Peter Burg - Đại học Cambridge
(3) Nicolas Mann - Tắc giả đã viết nhiều về Petrarch
(4) Học giả David Chamber - Đại học Luân Đôn
(5) Học giả Jenifer Flexer - Học viện mỹ thuật Costle
(6) Giáo sư Braut Krippner - Đại học Harvard

Hình minh họa nguồn internet