Kể từ thế kỷ thứ Bảy sau Công Nguyên cho đến khoảng năm 1000 một nền văn minh Hồi Giáo huy hoàng đã phát triển. Tuy lấy tôn giáo làm trọng tâm, nền văn minh này chan chứa thơ ca, màu sắc và tính cách trí thức. Câu chuyện bắt đầu vào năm 610 sau Công Nguyên tai Mecca, một thành phố nhỏ trên bán đảo Ả-Rập, nơi Mohamed, một thương gia giàu có, một ngày kia bỗng nhận được một thông điệp từ Thượng Đế nói là ông phải dâng mình cho Chúa và sáng lập ra một tín ngưỡng mới gọi là Hồi Giáo. Và từ đó, như một cơn lốc người ta tôn vinh Mohamed như một Nhà Tiên Tri, và những tín đồ của ông đã bành trướng ảnh hưởng của Hồi Giáo sang các nơi khác.
Cấu trúc của Mắt trong Y Văn Hồi Giáo cổ
"Nhà Tiên Tri Mohamed qua đời vào năm 632, chỉ trong vòng 100 năm những người Hồi Giáo đã chinh phục một vùng rộng lớn. Từ Tây Ban Nha ở phía tây cho đến những vùng nay là Uzbekistan và Pakistan ở phía đông. Đó quả thật là một cuộc chinh phục chớp nhoáng để tóm thu vùng Trung Đông và xa hơn nữa.". (1)
Có thể nói người Hồi Giáo đã thắng thế nhờ thời cơ thuận lợi. Lúc bấy giờ những vùng chung quanh bán đảo Ả-Rập đã kiệt quệ vì chiến tranh, trong khi lực lượng Hồi Giáo thì ngày càng tỏ ra tinh nhuệ hơn với chiến thuật sử dụng lạc đà trên sa mạc. Nhưng quan trọng hơn cả trong việc thôi thúc người Hồi Giáo tiến hành cuộc chinh phục này là tôn giáo mới của họ. "Cuộc chinh phục đã tạo cho vùng này một giai cấp thống trị mới với một ngôn ngữ của một tôn giáo thống trị mới. Nhưng ảnh hưởng của Hồi Giáo đi chậm hơn chiến thắng quân sự nhiều lắm. Theo tôi thì còn cần phải khoảng hai đến ba thế kỷ trước khi dân chúng ở các vùng này đổi sang theo Hồi Giáo.". (1)
Nền văn minh phát nguồn từ Hồi Giáo này đã thâm nhập nhiều nền văn minh khác trong vùng. Tuy có ảnh hưởng áp đảo Hồi Giáo cũng đã bị các nền văn minh đó thay đổi phần nào. Nên biết lúc đó cả Do Thái Giáo lẫn Ki Tô Giáo đều đã hiện hữu trên bán đảo Ả-Rập. Cho nên Hồi Giáo còn giữ lại nhiều truyền thống của hai tôn giáo đó. Và người Hồi Giáo cũng chấp nhận những Nhà Tiên Tri đi trước Mohamed, trong đó có cả chúa Giê-Su.
Thế thì tại sao giáo điều của Mohamed lại chiếm vị trí thượng phong?
"Những người Hồi Giáo lý luận rằng Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo đã phân hủy giáo lý của Thượng Đế. Cho nên Tiên Tri Mohamed mới xuất hiện để chu toàn và làm sáng tỏ những lời dạy bảo này và nhờ vậy làm cho chúng dễ hiễu hơn. Thông điệp Hồi Giáo lúc bấy giờ sở dĩ có sức mạnh là nhờ dựa trên một đức tin rất rõ rệt về một Thượng Đế duy nhất, và về Mohamed là một Nhà Tiên Tri duy nhất và là cuối cùng. Hồi Giáo đưa ra một viễn tượng rất đơn giản rằng ta phải làm thiện trong cõi đời này. Có nghĩa là người giàu phải giúp đỡ người nghèo và ai ai cũng phải tuân thủ một số giáo điều căn bản của Hồi Giáo. Làm như vậy khi sang thế giới bên kia thì những kẻ thiện sẽ được lên thiên đường và những kẻ ác sẽ xuống địa ngục.". (1)
Tín đồ Hồi Giáo ngoài việc chấp nhận Thượng Đế và Tiên Tri Mohamed họ phải tuân theo một số nghi thức khắt khe trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng hạn như họ phải cầu nguyện năm lần một ngày, phải dành một phần thu nhập của mình để bố thí cho người nghèo, phải giữ giới luật về ăn chay, và ít nhất là một lần trong đời phải hành hương đến thánh địa Mecca.
Thánh kinh Qur'an (Kô-ran) đóng vai then chốt trong đạo Hồi. Trong khi Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo xem Thánh Kinh của họ là lời của Thánh Tông Đồ của chúa Giê-Su thì Hồi Giáo xem kinh Qur'an của họ là lời của chính Thượng Đế. Điều đó có nghĩa là người Hồi cảm thấy bị xúc phạm nếu có ai phê bình kinh Qur'an, dù công khai hay ngấm ngầm. Trong khi đó thì người Ki Tô Giáo hay Do Thái Giáo có thể chấp nhận Thánh Kinh của họ bị đem ra phân tích hay phê bình. Chính vì vậy mà ngay từ buổi đầu Hồi Giáo đã tỏ ra nghiêm ngặt hơn các tôn giáo đồng thời về những gì mà họ cho là phạm thánh. Thứ hai là người Hồi tin Thượng Đế đã truyền lại những lời dạy bằng tiếng Ả-Rập cho Nhà Tiên Tri Mohamed qua trung gian thiên thần Gabriel. Ngôn ngữ của kinh Qur'an là một vấn đề tế nhị. "Quả thật, ai không thạo tiếng Ả-Rập thì không thể nào cảm nhận được tác động của kinh Qur'an. Trong ngôn ngữ nguyên thủy kinh Qur'an có một giai điệu hùng tráng và những câu chuyện trong đó thường mang nhiều tính giáo dục. Kinh Qur'an tập hợp đủ thứ tài liệu. Từ luật lệ được tổ tông và những nhà tiên tri tiền bối để lại, đến những bài thơ trừ tà ma ác quỷ. Quả thật, vào thế kỷ thứ Bảy trên bán đảo Ả-Rập không có một tác phẩm nào như kinh Qur'an trước khi Tiên Tri Mohamed lên tiếng.". (2)
"...Khấn cầu Thượng Đế đại từ đại bi, xin tôn vinh Thượng Đế chủ tể của tất cả sinh linh, từ bi vô biên chủ tể của ngày tận thế, chúng con thề một lòng thờ phụng Người. Cầu xin Người hãy ra tay cứu rỗi. Hãy dẫn chúng con về nẻo chính nơi an hưởng ân huệ của Người. Đừng để chúng con lầm đường lạc lối, hay sa ngã vào tay những kẻ sa đọa đã làm cho Người giận dữ..."
"Có thể nói kinh Qur'an đã ấn định tiếng Ả-Rập và tất cả những ai muốn trở thành tín đồ của đạo Hồi đều cảm thấy họ cần phải học tiếng Ả-Rập để thấu hiểu kinh Qur'an. Nên biết trước khi bị người Hồi Giáo chinh phục vào khoảng năm 640 thì không ai tại Ai Cập, Syria, Iraq và vùng Bắc Phi nói tiếng Ả-Rập. Nhưng rồi tiếng Ả-rập đã đến với họ như là ngôn ngữ thống trị, ngôn ngữ của tầng lớp lãnh đạo, ngôn ngữ của tôn giáo và nó dần dần tiêu diệt các ngôn ngữ khác.". (2)
Chữ viết Ả-Rập cũng khá đặc biệt. Những đường cong lả lướt trong lối viết này là một trong số những đặc tính thẩm mỹ tạo hình đặc trưng nhất của văn minh Hồi giáo. "Ngoài ý nghĩa về tôn giáo, chữ viết Ả-Rập còn là một biểu hiện văn hoá. Hình dáng độc đáo của chữ Ả-Rập luôn luôn nhắc nhở đến văn minh Hồi Giáo. Thật không có nền văn minh nào sử dụng chữ viết trong nghệ thuật nhiều như thế giới Hồi Giáo. Người Hồi viết chữ lên những cái bình, những cái khay, lên khăn bàn, lên nhà cữa...không chừa một chỗ nào hết.". (3)
Dù những nơi Hồi Giáo bành trướng đến tiếng Ả-Rập đã lấn áp các ngôn ngữ khác, Hồi Giáo vẫn chịu ảnh hưởng của những nền văn hóa bị trị. Chẳng hạn như trước khi bị Hồi Giáo tràn ngập Persia hay Ba Tư, mà nay là Iran, đã có một nền văn hóa cao và đã để lại một dấu ấn sau đậm trong nền văn minh Hồi Giáo sơ khai. Và dưới sự cai trị của Hồi Giáo, tiếng Ba Tư vẫn tiếp tục phát triển.
Trong văn minh hồi Giáo hầu hết các tác phẩm văn chương đều là thi ca giống như văn học thời tiền Hồi Giáo. Và các nhà thơ là những nhân vật có địa vị trong xã hội. "Cần phải lưu ý rằng phần lớn văn chương Ả-Rập là văn chương của thành thị. Đây là một điều kỳ lạ vì những thể thơ quan trọng nhất trong thi ca Ả-Rập phát xuất từ dân du mục Bedouin sống trong sa mạc. Người Bedouin thích dùng thơ ca để diễn tả những trận tấn công bằng lạc đà, những chuyến viễn du băng qua sa mạc, và để ca tụng những người con gái Bedouin mà thi sĩ đã từng yêu và mất. Nhưng sau vài thế kỷ, thi ca cũng như phần lớn văn chương Ả-Rập đều được sáng tác tại thành thị. Tóm lại đây là một nền văn hóa đô thị.". (2)
Một chàng trai người Bedouin ngày nay
Abbas Ibn al-Ahnaf , một thi sĩ si tình thời đó đã viết xuống những dòng chữ sau:
"...Ta muốn thành tấm áo
Quấn thân em nuột nà
Ước em làm khăn lụa
Mơn trớn bờ vai ta
Ta muốn là giọt mưa
Rơi vào bờ chén ngọc
Em, rượu màu sóng sánh
Dậy men tình đê mê
Bừng tỉnh trong sa mạc
Chỉ mình ta bên nhau
Như đôi chim lưu lạc
Giữa biển cát vạn sầu..."
Nhưng tiếng Ả-Rập không phài chỉ để tỏ tình mà còn để học kinh Qur'an và để đọc bộ Sunnah ghi chép lại cuộc đời của Nhà Tiên Tri Mohamed. Văn phạm tiếng Ả-Rập thời đó đã trở nên rất tinh vi. Người Hồi đã dùng ngôn ngữ tinh tế này để ghi chép lịch sử và thẩm định tính chuẩn xác của thông tin. Họ cũng chú tâm tìm tòi về tộc phả của các bộ lạc tham gia vào cuộc chinh phục của Hồi Giáo. Và từ đó họ đã hệ thống hóa Gia Phả Học. Giới trí thức Hồi Giáo đã học hỏi văn minh cổ Hy Lạp, cũng như những nền văn minh khác bị họ chinh phục, để phát huy kiến thức của họ thêm nữa. Và cách truyền dạy kiến thức này tại các trường học Hồi Giáo đã trở thành một trong những yếu tố thống nhất văn minh Hồi Giáo. "Giáo dục Hồi Giáo dần dần biến việc dạy riêng từng người thành dạy chung cho nhiều người trong một loại trường học gọi là Madrasah, được dựng lên từ tiền công đức của tín đồ Hồi Giáo. Mục tiêu chính của các trường này là dạy luật Hồi Giáo. Có lẽ đó là yếu tố thống nhất quan trọng nhất của văn hóa Hồi Giáo. Tuy các trường này còn dạy thêm nhiều môn học nữa, tỷ như Luân Lý và Y Học, nhưng nhiệm vụ chính của các trường này là dạy luật. Và khi các trường này bắt đầu lan tràn ra khắp thế giới Hồi Giáo kể từ thế kỷ 11 thì học trình và sách giáo khoa của họ đã trở nên khá đồng nhất. Nhờ vậy mà các học giả Hồi Giáo có thể đi đến khắp nơi trong thế giới Hồi Giáo mà học vị của họ vẫn được công nhận để đảm nhận các chức vụ trong chính quyền hay trong lãnh vực văn hóa.". (4)
Hình minh họa nguồn internet
"...Ta muốn thành tấm áo
Quấn thân em nuột nà
Ước em làm khăn lụa
Mơn trớn bờ vai ta
Ta muốn là giọt mưa
Rơi vào bờ chén ngọc
Em, rượu màu sóng sánh
Dậy men tình đê mê
Bừng tỉnh trong sa mạc
Chỉ mình ta bên nhau
Như đôi chim lưu lạc
Giữa biển cát vạn sầu..."
Nhưng tiếng Ả-Rập không phài chỉ để tỏ tình mà còn để học kinh Qur'an và để đọc bộ Sunnah ghi chép lại cuộc đời của Nhà Tiên Tri Mohamed. Văn phạm tiếng Ả-Rập thời đó đã trở nên rất tinh vi. Người Hồi đã dùng ngôn ngữ tinh tế này để ghi chép lịch sử và thẩm định tính chuẩn xác của thông tin. Họ cũng chú tâm tìm tòi về tộc phả của các bộ lạc tham gia vào cuộc chinh phục của Hồi Giáo. Và từ đó họ đã hệ thống hóa Gia Phả Học. Giới trí thức Hồi Giáo đã học hỏi văn minh cổ Hy Lạp, cũng như những nền văn minh khác bị họ chinh phục, để phát huy kiến thức của họ thêm nữa. Và cách truyền dạy kiến thức này tại các trường học Hồi Giáo đã trở thành một trong những yếu tố thống nhất văn minh Hồi Giáo. "Giáo dục Hồi Giáo dần dần biến việc dạy riêng từng người thành dạy chung cho nhiều người trong một loại trường học gọi là Madrasah, được dựng lên từ tiền công đức của tín đồ Hồi Giáo. Mục tiêu chính của các trường này là dạy luật Hồi Giáo. Có lẽ đó là yếu tố thống nhất quan trọng nhất của văn hóa Hồi Giáo. Tuy các trường này còn dạy thêm nhiều môn học nữa, tỷ như Luân Lý và Y Học, nhưng nhiệm vụ chính của các trường này là dạy luật. Và khi các trường này bắt đầu lan tràn ra khắp thế giới Hồi Giáo kể từ thế kỷ 11 thì học trình và sách giáo khoa của họ đã trở nên khá đồng nhất. Nhờ vậy mà các học giả Hồi Giáo có thể đi đến khắp nơi trong thế giới Hồi Giáo mà học vị của họ vẫn được công nhận để đảm nhận các chức vụ trong chính quyền hay trong lãnh vực văn hóa.". (4)
Một nền giáo dục phổ cập như vậy là một phát triển rất văn minh. Luật Hồi Giáo là trung tâm của nền văn hóa vì nó là mắt xích nối với tôn giáo. Nhưng luật này cũng rất thực tế với những quy luật để áp dụng mọi vào khía cạnh của cuộc sống. Do đó những học giả trong đạo cũng biết nhiều về thương mại. "Chính Tiên Tri Mohamed vốn là một nhà buôn, từ đó ta có thể hiểu được phần nào nhân sinh quan của những người Hồi Giáo sau này. Ít nhất là trong một vài lĩnh vực của Ki Tô Giáo người ta xem thương mại và tôn giáo là đối nghịch, vì việc kiếm tiền không thể nào thích hợp với cuộc sống tâm linh. Nhưng Hồi Giáo thì nghĩ khác. Phần lớn Giáo Sĩ học giả Hồi Giáo đều xuất thân từ thành phần thương gia. Thành ra, là một nhà buôn mà làm ăn khá giả và lương thiện thì cũng có thể trở thành một tín đồ Hồi Giáo ngoan đạo.". (1)
Hậu quả của điều này là một luật lệ về buôn bán rất hữu ích cho việc phát triển thương mại trong thế giới Hồi Giáo. Đó là cho phép hùn hạp thụ động, tức là có thể góp vốn để làm ăn chia lãi nhưng không ra mặt hay trực tiếp quản lý các hoạt động đầu tư. Cách thức này đã được các dân tộc khác tiếp thu, tỷ như người Do Thái thời Trung Cổ sống trong thế giới Hồi Giáo, hay người Armenia mà vào thế kỷ 17 đã buôn khắp nơi từ Ấn Độ tới Amsterdam ở Hà Lan. Họ thường viết ra những hợp đồng dựa trên Luật Thương Mại của Hồi Giáo. Y Học Hồi Giáo thời đó cũng đã tiến xa. Điển hình là mãi cho tới thời hiện đại Châu Âu mới có những tiến bộ hơn việc dùng thuốc và điều trị về mắt của người Hồi Giáo. Thế giới Hồi Giáo bấy giờ cũng đã phát minh ra dụng cụ giải phẫu tinh vi đến độ Châu Âu hoàn toàn chưa biết đến, và hệ thống bệnh viện của Hồi Giáo thì không nơi nào sánh nổi.
"Vào khoảng thế kỷ thứ Tám và thứ Chín những bệnh viện Hồi Giáo bắt đầu xuất hiện. Chắc chắn là vào thế kỷ thứ 12 đến thứ 14 những cơ sở này đã trở nên rất bề thế và có tổ chức, tức là có những khu dành riêng cho bệnh nhân nam nữ, cho các bệnh khác nhau. Nhiều bệnh viện có cả nhà bếp, đền thờ Hồi Giáo, thư viện. Vài nơi có cả những khu vườn lớn với hồ nhân tạo có vòi phun nước để cho bệnh nhân cũng như nhân viên có nơi thư giãn. Họ còn có một hệ thống hành chánh khá hiện đại để giải quyết các chi thu và lưu trữ hồ sơ bệnh nhân với đầy đủ các dữ kiện: tên tuổi, bệnh trạng, thuốc men đã trị liệu. Thuốc men được cung ứng và phân phát ra sao? Nói chung Hồi Giáo đã cống hiến nhiều tiến bộ quan trọng trên nhiều lĩnh vực.". (5)
Tuy trong Y Học, Luật Học và Triết Học việc học hỏi qua sách vở là quan trọng nhưng người Hồi Giáo không chỉ học qua lối từ chương. "Ngay trong giới học giả Trung Đông văn hóa khẩu truyền chiếm ưu thế so với văn hóa sách vở. Ví dụ, như để quảng bá tác phẩm của mình một tác giả Hồi Giáo thường tìm một chỗ công cộng nào đó và đứng lên đọc cho đám đông tụ tập nghe. Kiến thức cũng được lưu truyền qua cữa miệng. Ví dụ nổi bật nhất là cuốn Hadith gồm những lời dạy của Nhà Tiên Tri. Người Hồi Giáo xem những lời dạy này sẽ không truyền lại một cách đúng đắn qua chữ viết trên giấy mà phải được thầy già giảng cho thầy trẻ nghe. Và cứ thế thế hệ này truyền lời khôn cho thế hệ khác.". (2)
Hậu quả của điều này là một luật lệ về buôn bán rất hữu ích cho việc phát triển thương mại trong thế giới Hồi Giáo. Đó là cho phép hùn hạp thụ động, tức là có thể góp vốn để làm ăn chia lãi nhưng không ra mặt hay trực tiếp quản lý các hoạt động đầu tư. Cách thức này đã được các dân tộc khác tiếp thu, tỷ như người Do Thái thời Trung Cổ sống trong thế giới Hồi Giáo, hay người Armenia mà vào thế kỷ 17 đã buôn khắp nơi từ Ấn Độ tới Amsterdam ở Hà Lan. Họ thường viết ra những hợp đồng dựa trên Luật Thương Mại của Hồi Giáo. Y Học Hồi Giáo thời đó cũng đã tiến xa. Điển hình là mãi cho tới thời hiện đại Châu Âu mới có những tiến bộ hơn việc dùng thuốc và điều trị về mắt của người Hồi Giáo. Thế giới Hồi Giáo bấy giờ cũng đã phát minh ra dụng cụ giải phẫu tinh vi đến độ Châu Âu hoàn toàn chưa biết đến, và hệ thống bệnh viện của Hồi Giáo thì không nơi nào sánh nổi.
"Vào khoảng thế kỷ thứ Tám và thứ Chín những bệnh viện Hồi Giáo bắt đầu xuất hiện. Chắc chắn là vào thế kỷ thứ 12 đến thứ 14 những cơ sở này đã trở nên rất bề thế và có tổ chức, tức là có những khu dành riêng cho bệnh nhân nam nữ, cho các bệnh khác nhau. Nhiều bệnh viện có cả nhà bếp, đền thờ Hồi Giáo, thư viện. Vài nơi có cả những khu vườn lớn với hồ nhân tạo có vòi phun nước để cho bệnh nhân cũng như nhân viên có nơi thư giãn. Họ còn có một hệ thống hành chánh khá hiện đại để giải quyết các chi thu và lưu trữ hồ sơ bệnh nhân với đầy đủ các dữ kiện: tên tuổi, bệnh trạng, thuốc men đã trị liệu. Thuốc men được cung ứng và phân phát ra sao? Nói chung Hồi Giáo đã cống hiến nhiều tiến bộ quan trọng trên nhiều lĩnh vực.". (5)
Tuy trong Y Học, Luật Học và Triết Học việc học hỏi qua sách vở là quan trọng nhưng người Hồi Giáo không chỉ học qua lối từ chương. "Ngay trong giới học giả Trung Đông văn hóa khẩu truyền chiếm ưu thế so với văn hóa sách vở. Ví dụ, như để quảng bá tác phẩm của mình một tác giả Hồi Giáo thường tìm một chỗ công cộng nào đó và đứng lên đọc cho đám đông tụ tập nghe. Kiến thức cũng được lưu truyền qua cữa miệng. Ví dụ nổi bật nhất là cuốn Hadith gồm những lời dạy của Nhà Tiên Tri. Người Hồi Giáo xem những lời dạy này sẽ không truyền lại một cách đúng đắn qua chữ viết trên giấy mà phải được thầy già giảng cho thầy trẻ nghe. Và cứ thế thế hệ này truyền lời khôn cho thế hệ khác.". (2)
Văn chương truyền khẩu đòi hỏi người có học phải ngao du và người Hồi Giáo đã đi khắp nơi vì lý do tôn giáo và thương mại. Họ rất chuộng đồ dệt và họ sẵn sàng đi đến chân trời góc bể để buôn bán vải vóc quí hiếm. Hàng dệt đã chi phối toàn bộ nền văn minh Hồi Giáo Trung Cổ. Vải vóc là sản phẩm thương mại chính và nó cũng là khuôn thước để đo lường giá trị cũng như để khoe khoang của cải. Người Hồi Giáo dùng vải vóc như tiền tệ hay là để trang trí các công trình kiến trúc.
Vào lúc này đền đài dinh thự Hồi Giáo là nơi để biểu hiện những kỷ năng siêu việt của các nghệ nhân đến từ các vùng khác nhau trong thế giới Hồi Giáo. Một thí dụ huy hoàng là đền Taj Mahal được xây vào thế kỷ thứ 17. Đó là một ngôi mộ hùng vĩ tráng lệ mà một vi hoàng đế Ấn Độ đã xây cho người vợ quá cố của ông.

Đền Taj Mahal ở Ấn Độ
Vào lúc này đền đài dinh thự Hồi Giáo là nơi để biểu hiện những kỷ năng siêu việt của các nghệ nhân đến từ các vùng khác nhau trong thế giới Hồi Giáo. Một thí dụ huy hoàng là đền Taj Mahal được xây vào thế kỷ thứ 17. Đó là một ngôi mộ hùng vĩ tráng lệ mà một vi hoàng đế Ấn Độ đã xây cho người vợ quá cố của ông.

Đền Taj Mahal ở Ấn Độ
"Người thiết kế các cột chính của đền Taj Mahal đến từ đế quốc Ottoman và người thiết kế các cột nhọn trên các vòm đến từ Bukhara ở Trung Á. Kiến trúc sư là người Iran đến từ Syria, các đóng góp khác thì đến từ Ấn Độ. Hầu hết các trang trí đá khảm đẹp đẽ là công trình của những nghệ nhân ở Multan, các thiết kế khu vườn đến từ Kashmir. Thành ra ngôi đền Taj Mahal theo một nghĩa nào đó là một thành quả vĩ đại của sự hợp tác giữa các nghệ nhân bên trong nước Ấn với các nghệ nhân từ nhiều khu vực khác nhau ở miền Đông thế giới Hồi Giáo.". (6)
Công việc trang trí những công trình kiến trức công phu như vậy người Hồi Giáo thường dùng những màu sắc rực rỡ. Tỷ như màu xanh nước biển đậm của các tấm ngói lát trên các đền thờ và lâu đài của họ. Thảm len Hồi Giáo cũng nổi tiếng là có mẫu mã phức tạp và đầy màu sắc rực rỡ, nhiều tấm trông giống như một cái vườn.
Cái tư duy mỹ thuật đó từ đâu ra?
"Ta nên biết là nghệ nhân dệt thảm thường là những người thuộc thành phần nghèo, lang bạt kỳ hồ như du mục trong sa mạc. Có lúc họ sống trong những túp lều tạm bợ mà bên trong thường không có bàn ghế giường tủ gì cả. Gia tài sự sản của họ chỉ là những cuộn len màu, hay những tấm vải, tấm bạt mà họ dùng để trang trí cũng như làm những tấm màn ngăn lều. Trong kiếp sống phiêu bạt đó họ muốn sống bên cạnh những hình ảnh tươi mát tượng trưng cho ổn định, phồn vinh. Đó chính là những tấm thảm rực rỡ. Đối với họ đó là những mảnh vườn mà họ có thể cuốn lại để chất lên lưng lạc đà khi họ nhổ lều ra đi. Và quả thật, nhiều tấm thảm lớn được thiết kế như một cái vườn, tức là cũng được chia ra làm tư với các bụi bờ, lùm cây, hoa quả, hồ nước. Đó là những cái vườn được thêu dệt tỉ mỉ với cây kim mũi chỉ.". (3)
Dĩ nhiên tư duy về nghệ thuật cảnh quan còn được biểu hiện qua vườn tượt thật sự. Trong một vùng khô cằn và bụi bặm người Hồi Giáo xem trọng việc thiết kế vườn, và mẩu vườn kiểng Ba Tư đã có nguồn gốc từ thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Vườn của người Hồi không chỉ để cho mát mắt mà còn để đáp ứng một nhu cầu tâm linh. "Thiết kế truyền thống của họ đòi hỏi phải xây một bức tường bao quanh khu vườn, và bên trong khu vườn phải có nước chảy, cây cối, hoa quả...vv. Điều đáng chú ý nhất là họ muốn tạo nên một sự tương phản tuyệt đối để từ sa mạc nóng bỏng gió bụi bên ngoài ta có thể bước vào một nơi yên tĩnh có bóng râm gió mát. Và từ ngữ mà người Ba Tư đã dùng để mô tả một khu vườn như vậy thì qua trung gian của văn minh Hy Lạp đã du nhập vào các thứ tiếng khác của Âu Châu, đó là chữ: Paradise.". (7)
"Paradise" dịch ra tiếng Việt là "Thiên Đường". Như người Ki Tô Giáo và Do Thái Giáo, người Hồi Giáo cũng muốn biến nội thất đền đài của họ thành biểu tượng của thiên đường. "Đối với người Hồi Giáo thiên đường là một khái niệm rất cụ thể. Kinh Qur'an mô tả: "...đó là một khu vườn xinh đẹp, nơi có nước chảy tràn trề, có trăm hoa ngàn trái và nhan nhản trinh nữ tuyệt trần...". Ý tưởng Thiên Đường như một khu vườn kín đáo xinh đẹp, nơi mà những con chiên ngoan đạo có thể hưởng thụ không thiếu một thứ lạc thú nào, quả là một hình ảnh vô cùng mê hoặc.". (8)
Cái tư duy mỹ thuật đó từ đâu ra?
"Ta nên biết là nghệ nhân dệt thảm thường là những người thuộc thành phần nghèo, lang bạt kỳ hồ như du mục trong sa mạc. Có lúc họ sống trong những túp lều tạm bợ mà bên trong thường không có bàn ghế giường tủ gì cả. Gia tài sự sản của họ chỉ là những cuộn len màu, hay những tấm vải, tấm bạt mà họ dùng để trang trí cũng như làm những tấm màn ngăn lều. Trong kiếp sống phiêu bạt đó họ muốn sống bên cạnh những hình ảnh tươi mát tượng trưng cho ổn định, phồn vinh. Đó chính là những tấm thảm rực rỡ. Đối với họ đó là những mảnh vườn mà họ có thể cuốn lại để chất lên lưng lạc đà khi họ nhổ lều ra đi. Và quả thật, nhiều tấm thảm lớn được thiết kế như một cái vườn, tức là cũng được chia ra làm tư với các bụi bờ, lùm cây, hoa quả, hồ nước. Đó là những cái vườn được thêu dệt tỉ mỉ với cây kim mũi chỉ.". (3)
Dĩ nhiên tư duy về nghệ thuật cảnh quan còn được biểu hiện qua vườn tượt thật sự. Trong một vùng khô cằn và bụi bặm người Hồi Giáo xem trọng việc thiết kế vườn, và mẩu vườn kiểng Ba Tư đã có nguồn gốc từ thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Vườn của người Hồi không chỉ để cho mát mắt mà còn để đáp ứng một nhu cầu tâm linh. "Thiết kế truyền thống của họ đòi hỏi phải xây một bức tường bao quanh khu vườn, và bên trong khu vườn phải có nước chảy, cây cối, hoa quả...vv. Điều đáng chú ý nhất là họ muốn tạo nên một sự tương phản tuyệt đối để từ sa mạc nóng bỏng gió bụi bên ngoài ta có thể bước vào một nơi yên tĩnh có bóng râm gió mát. Và từ ngữ mà người Ba Tư đã dùng để mô tả một khu vườn như vậy thì qua trung gian của văn minh Hy Lạp đã du nhập vào các thứ tiếng khác của Âu Châu, đó là chữ: Paradise.". (7)
"Paradise" dịch ra tiếng Việt là "Thiên Đường". Như người Ki Tô Giáo và Do Thái Giáo, người Hồi Giáo cũng muốn biến nội thất đền đài của họ thành biểu tượng của thiên đường. "Đối với người Hồi Giáo thiên đường là một khái niệm rất cụ thể. Kinh Qur'an mô tả: "...đó là một khu vườn xinh đẹp, nơi có nước chảy tràn trề, có trăm hoa ngàn trái và nhan nhản trinh nữ tuyệt trần...". Ý tưởng Thiên Đường như một khu vườn kín đáo xinh đẹp, nơi mà những con chiên ngoan đạo có thể hưởng thụ không thiếu một thứ lạc thú nào, quả là một hình ảnh vô cùng mê hoặc.". (8)
Không biết đàn bà ngoan đạo Hồi Giáo có cho là xem hoa với trinh nữ bên dòng nước róc rách là một lạc thú hay không nhưng chắc chắn là Hồi Giáo một thời đã biểu hiện được một cực điểm của văn minh, về vật chất cũng như về tâm linh.
Nội dung được trình bày bởi:
(1) Tiến Sĩ Hill Kennedy - Đại học St-Andrew
(2) Robert Irwin - Sử gia chuyên về Hồi Giáo
(3) Giáo sư Robert Grant - Đại học Edinburgh (?)
(4) Giáo sư Roy Molzadez (?)- Đại học Harvard
(5) Tiến sĩ Lawrence Compret - Học viện Wellcome về Y Sử
(6) Giáo sư Francis Robinson - Đại học Luân Đôn
(7) Giáo sư David Morgan
(8) Giáo sư (?)
Hình minh họa nguồn internet

