17 Jul 2009

(03) Văn Minh Cổ Ấn Độ

Nói tới Văn Minh Ấn Độ là nói tới tôn giáo. Có vẻ như là toàn thể xã hội Ấn Độ mọi vấn đề, mọi tư duy đều phát xuất từ tôn giáo và đều qui tụ về tôn giáo. Nếu ta muốn dùng một chữ duy nhất để diễn tả đóng góp của Ấn Độ vào văn minh của nhân loại thì chữ đó tất phải là tâm linh.

                           

"Tôi cho đó là một đóng góp rất quan trọng, con người không đơn thuần chỉ là một kết cấu sinh học cho nên truyền thống tôn giáo Ấn Độ với một kinh nghiệm nội tâm rất xúc tích đã góp phần đáng kể cho sự thấu hiểu của chúng ta về phần hồn hay là tâm linh của con người" (1)

Bài này sẽ không bàn đến Hồi Giáo, một trong những tôn giáo lớn tại Ấn Độ, bỡi vì Hồi Giáo đã du nhập vào Ấn Độ mãi về sau này. Ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu về một truyền thống cổ hơn của Ấn Độ. Ngày nay, không phải ngẫu nhiên mà thế giới quan tâm đến tính triết lý tôn giáo Ấn Độ. Đối với nhiều người văn minh vật chất không những không thể thỏa mãn tất cả mà còn đẩy con người xa dần điển tựa tâm linh mà họ cần để tạo nên một nhân sinh quan. Từ ngàn xưa nhu cầu tâm linh đó đã là điều rất quan trọng đối với người Ấn.

Mỗi người Ấn chỉ thờ một vị thần phản ảnh được nhu cầu đó của họ. "Tôi nghĩ rằng cái quan niệm về thần linh của Ấn Độ không khác gì quan niệm chung của chúng ta về thế giới, cũng như nhu cầu của mỗi người đưa đến thế giới quan của người đó thì nhu cầu tâm linh của người Ấn cũng đã tạo ra những vị thần mà họ cần phải có, và mỗi vị biểu hiện một nhu cầu khác biệt của họ."(2)

Đó quả là một quan niệm đặc thù của Ấn Độ, rất khác lạ đối với những ai chỉ thờ phụng một vị Thiên Chúa duy nhất. Để hiểu rõ quan niệm này chúng ta cần phải đi sâu về quá khứ. Trong đạo Bà La Môn có một bản kinh gọi là kinh Rigveda, bản kinh cổ nhất thế giới mà hiện vẫn còn được thờ phụng. Kinh Rigveda xuất hiện vào khoảng năm 1200 trước Công Nguyên, vào lúc mà các nền văn minh thị tứ cổ đại tại lưu vực sông Indus đang suy tàn, có thể là vì do ngập lụt. Người Arian, một giống dân du mục, đã tràn vào miền bắc và miền trung của tiểu lục địa Ấn Độ. Kinh Rigveda là các bản thánh ca do các giáo sĩ trong bộ tộc của họ viết ra để kể lại những nghi thức tế thần mà đôi khi rất đẫm máu. Dân du mục Arian thuộc lòng các lời lẽ của các bản thánh ca mà họ xem là thiêng liêng đến nỗi không ai có quyền sửa đổi. Tuy nhiên những giáo sĩ Arian cũng đã biểu lộ tính tò mò và cởi mở. Bản Sáng Thế Ca được coi là tác phẩm triết học cổ xưa nhất nói lên những hoài nghi của con người trước vạn vật.

Ai thông suốt mọi chuyện, ai có thể nói cho ta nghe tường tận vạn vật đến từ đâu? Nguồn gốc của chúng nơi chốn nào? Vũ trụ được sáng tạo trước rồi mới đến thiên thần, thì ta biết hỏi ai đây? Sáng thế là công của ai? Phải chăng là công ông Trời? Trời cao chứng giám mọi điều, Trời chí khôn, Trời tất biết nhưng có khi Trời dại, Trời chẳng hay.

                     
                                    Kinh Rigveda

Cầm đầu các bộ lạc người Arian là các vị vua gọi là Raja, trong chiến tranh các Raja là người bày binh bố trận, nhưng chính giới giáo sĩ chủ trì tế lễ và hát các bản thánh ca mới là thành phần bảo đảm chiến thắng và sự phồn vinh khi hòa bình trở lại. Mọi suy tư của người Ấn về một trật tự xã hội đến từ một khái niệm đã được đề ra trong thánh ca Rigveda. Khái niệm này phát xuất từ quan điểm khởi đầu của vũ trụ và Thượng Đế. "Một khía cạnh của quan điểm đó gọi là Vradra, tạm dịch là "các đẳng cấp" tạo ra một trật tự xã hội. Các đẳng cấp đó được thể hiện bằng hình ảnh của Thượng Đế. Câu thứ 12 trong bài ca sáng thế mô tả rằng từ miệng Thượng Đế xuất hiện đẳng cấp Bà La Môn, từ cánh tay thì xuất hiện đẳng cấp Rajania, mà người ta liên kết với đẳng cấp Shadra, hay là chiến sĩ, là những người bảo vệ xã hội. Từ đùi của Thượng Đế sinh ra đẳng cấp Vadra, là giới thương gia chịu trách nhiệm về sự phồn vinh và hoạt động điều hòa của xã hội. Và từ bàn chân là đẳng cấp Sudra, những người phải phục vụ cho những tầng lớp khác trong xã hội. Sự chấp nhận một trật tự xã hội kiểu này đã dần dần đưa đến một hệ thống đẳng cấp còn tồn tại cho đến ngày nay như là một trọng tâm của truyền thống Ấn Độ. Ngày nay có người coi đó là thiếu văn minh và tàn nhẫn nhất là đối với các giới hạ đẳng và đối với phụ nữ là thành phần luôn luôn bị khinh rẽ bất luận họ được sinh ra trong đẳng cấp nào. 

Nhưng xã hội đẳng cấp có gì đáng được bào chữa hay không?(1)

"Có người nói rằng nhờ chế độ đẳng cấp mà tình trạng cạnh tranh và bất an trong xã hội đã giảm đi, tức là tính an phận thủ thường khiến cho con người ta chỉ theo đuổi các ngành nghề truyền thống và biết cư xử với người trên kẻ dưới mà không cạnh tranh hay băn khoăn dằn vặt gì cả."(1)

Chế độ đẳng cấp quả thật có tạo ra ổn định nhưng cũng vì nó mà Ấn Độ đã dẫm chân tại chỗ. "Đó quả là một lý thuyết rất vững mạnh về xã hội, và trong một thời gian khá lâu không ai nghĩ tới việc tranh cãi lý thuyết này. Nói chung các vị Raja thấy hợp tác với các người Bà La Môn có lợi cho họ vì giáo thuyết đẳng cấp của Bà La Môn đã chính thống hóa vương quyền của họ, và tạo ổn định hài hòa khi người trên biết cai trị người dưới và người dưới biết phục tùng người trên. Chính vì thế mà từ thế kỷ này qua thế kỷ khác không có một triết lý chính trị hay ho nào xuất hiện tại Ấn Độ."(3)

Nhưng người Ấn có thể hài lòng với một quan niệm khác, đó là:dharma. Danh từ dharma này thường được dịch sang tiếng Việt là "Mệnh", nhưng thật ra ý nghĩa của từ dharma không hẳn là Mệnh".Tôi cho là dharma còn bao hàm khái niệm trách nhiệm, theo nghĩa mỗi cá nhân phải tùy theo thời vật mà thực hiện một trọng trách thiên mệnh nào đó. Dharma là một khái niệm có tính tổng quát, và mỗi người mỗi thành phần trong xã hội đều có một dharma riêng, tỷ như đàn bà thì có cái gọi là Sray dharma, tức là "Nữ Mệnh". Vua thì có raja dharma, tức là "Vương Mệnh". Và hơn ai hết một vị vua hiểu rõ từ này bao hàm những gì, vì theo ý nghĩa của nó thì đi đôi với quyền lực vô biên là rất nhiều trách nhiệm. Ngoài "Mệnh" đối với dân Raja còn có "Mệnh" đối với trời đất nữa."(4)

Như vậy là người Ấn ai cũng biết địa vị của mình trong xã hội và dharma của mình là cái gì. Ba đẳng cấp ở trên cùng có những quyền lợi và nhiệm vụ mà đẳng cấp Sudra ở tận cùng bị cấm. Nhưng để bù lại đẳng cấp Sudra có những ưu đãi riêng, chẳng hạn họ được quyền uống rượu. Trong khi đó dharma của Shadra, hay đẳng cấp chiến sĩ, là phải chiến đấu trong mọi hoàn cảnh. Đó là một điều đã được mô tả một cách đầy cảm xúc trong bản Hùng Ca nổi tiếng của Ấn, đó là: Mahabharata

                       
                                       Hùng Ca Mahabharata

"Mahabharata kể lại sự thù hằn dẫn tới chiến tranh giữa hai gia đình có họ hàng với nhau. Mahabharata chính là nơi mà lần đầu tiên vị thần Krishna xuất hiện trong truyền thống Ấn Độ. Nhiều người Ấn cho Krishna là một biểu tượng của Thượng Đế."(1)Trong đêm trước khi lâm trận người anh hùng Arjuna đứng trong chiếc chiến xa của mình mà tâm trạng rối bời. Những đối thủ mà chàng phải ra quân để tiêu diệt ngày mai đều là bạn bè và họ hàng của chàng. Chàng tâm sự với người đánh xe vốn là thần Krishna hiện thân: Này Krishna chém giết nhau chỉ tạo thêm đau khổ vì quyền lực trần thế mà nồi da xáo thịt quả là một tội nặng biết bao. Ngày mai khi bạn bè thân thuộc của ta tiến đánh ta, có nên chăng ta ra đứng trước họ, tay không ưỡn ngực trần để hứng những tên lao giáo mác thay vì giáng trả lại từng đòn với họ?

                        
                                     Thần Krishna tượng trưng cho Thượng Đế trong Ấn Giáo
                        
(Thần Krishna được thấy khá nhiều trong các ngôi chùa Ấn Giáo ở khu trung tâm Sài Gòn, như chùa trên đường Trương Định gần chợ BếnThành)  

Nhưng Krishna nhắc nhở Arjuna rằng định mệnh của một chiến sĩ là chiến đấu và không nên băn khoăn về nhiệm vụ của mình. Hỡi Arjuna! Đừng băn khoăn tự vấn nữa! Phải an tâm chiến đấu, đó là phận sự của Ngài. Dù hay, dù dở, dù Ngài có bỏ thân nơi trận mạc, một niềm vui sẽ đến khi dharma được chu toàn. Hãy đừng băn khoăn về định mệnh của người khác làm gì cho thêm nhọc trí.

Nhưng Krishna cũng an ủi Arjuna phần nào khi cho chàng hay là những bạn bè thân thích mà chàng phải giết sẽ được tái sinh. Người Ấn cũng vận dụng luật nhân quả để an phận thủ thường vì họ tin là khi tái sinh người tốt sẽ được thưởng, người xấu sẽ bị phạt. Họ cũng hy vọng là có thể dành dụm phúc đức để từ từ được cứu rỗi và thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử. 

                             
                                              Tượng Arjuna ngày nay

Thuở xưa tất cả những triết lý dharma chỉ được truyền miệng khi bản Hùng Ca Mahabharata và những bản kinh vĩ đại khác chưa được chép thành sách. Mặc dù chưa có chữ viết, vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên, tức là hai thế kỷ trước khi chữ viết được biết tới tại Ấn Độ, một người Ấn tên là Panini đã soạn ra một cuốn văn phạm rất cao siêu cho Sanskrit, tức là chữ Phạn một ngôn ngữ chính của Ấn, và cũng là ngôn ngữ dùng trong tôn giáo và học thức. Nhưng nói đó là cuốn sách thì không chính xác là vì nó là một tác phẩm truyền khẩu gồm 4000 qui luật văn phạm và ngữ âm mà học sinh cần phải học thuộc lòng. Đó quả là một kỳ công của trí nhớ, nhưng phải nói việc soạn ra một bộ văn phạm như vậy trong lúc chưa có chữ viết là một kỳ công lớn hơn nhiều.

"Văn phạm tiếng Phạn của Panini có cấu trúc rất khoa học và rất phức tạp. Vì vậy nó không thích hợp chút nào với những ai mới tập tễnh học tiếng Phạn. Văn phạm này đòi hỏi người ta phải có một kiến thức sâu đậm về văn học Sanskrit thời đó. Đặc biệt là Panini còn bàn về cấu trúc của miệng, việc dùng hơi thở và thanh quản để tạo ra tiếng nói. Các phân tích đó cho thấy ngữ âm học thời đó dường như đã khá phát triển, ít nhất là trong giới trí thức cùng thời với Panini. Trong suốt hơn 2000 năm trước chưa có ai hệ thống hóa ngôn ngữ một cách tinh vi như Panini, và quả thật chính việc khám phá ra các văn bản về ngữ âm học của Ấn Độ trong thế kỷ 19 đã giúp cho người Âu Châu lập ra được nền ngữ âm học hiện đại." (5)

                                   
                      Nhân vật Arjuna được thể hiện cách điệu trong nghệ thuật múa rối ngày nay

Bắt đầu từ thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên tất cả những người có học tại Ấn Độ đều tuân thủ văn phạm Panini khi dùng tiếng Phạn, tương tự như tiếng Latin được sử dụng tại Châu Âu thời Trung Cổ vậy. Thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên cũng là thời mà Trung Quốc và Hy Lạp đã đạt được nhiều thành quả tri thức to lớn và tại Ấn Độ những phong trào tôn giáo mới bắt đầu thách thức sự độc tôn của các kinh Veda. Nguyên do là vì trung tâm của văn minh Ấn lúc bấy giờ đã chuyển xuống phía nam, nơi lúa nước là nông phẩm chính. (6)

Nam Ấn Độ vào thời này là một nơi lam chướng, ẩm ướt, đầy sốt rét và dịch tả, nhưng cũng là một vùng có nông nghiệp trù phú khiến cho việc thành thị hóa có thể thực hiện được. Nhưng vì đông dân mà nguồn nước uống lại bị ô nhiễm, dịch bệnh chết chóc thường diễn ra tại thành thị. Những tâm trạng lo âu băn khoăn đó có thể đưa đến những phong trào tôn giáo mới." Trong số những phong trào đó, quan trọng nhất là Phật Giáo. Theo truyền thuyết đức Phật Thích Ca sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng đã từ bỏ cuộc sống giàu sang trần thế để tìm giải thoát. Ngài đề ra một triết lý mà theo đó cuộc đời chẳng qua là một vòng luân hồi của sinh, lão, bệnh, tử. Và trong vòng luân hồi đó ngồn gốc của đau khổ là đam mê dục vọng. Muốn thoát ra khỏi cái vòng khổ ải triền miên đó thì con người phải từ bỏ dục vọng để đi đến giác ngộ.

                                   
                                        Arjuna được khắc trên các đền đài ngày nay

Tiềm tàng trong khái niệm giác ngộ của nhà Phật là sự hiểu biết sâu xa, thấm đẫm tình nhân ái, tức là lòng từ bi. Sự giác ngộ giúp phật tử xử thế một cách tế nhị. Giác ngộ là căn bản của mọi phái trong Phật Giáo, nó là trọng tâm của thông điệp mà Phật giáo đưa ra cho thế giới và khiến cho Phật Giáo thành một tư duy vĩ đại của văn minh loài người. (6)  

Vào thế kỷ thứ Ba trước Công Nguyên hầu hết Tiểu Lục Địa Ấn Độ được thống nhất dưới sự cai trị của một vị vua theo đạo Phật, đó là vua Ashoka, tức là A-dục, người đầu tiên mang chữ viết đến với văn minh Ấn Độ. Vua A-dục cho dựng lên những tấm văn bia trên hầu hết nước Ấn. Đây là những chứng tích về chữ viết đầu tiên đã được xác định niên đại tại Ấn Độ. Theo một giả thuyết, vua A-dục bắt chước các hoàng đế Ba-tư, ngài ra lệnh cho các giáo sĩ Bà La Môn phát minh ra chữ viết để khắc vào bia. Điều đáng chú ý nữa là trên một trong những văn bia đó ngài đã bày tỏ sự hối hận sâu xa về hậu quả cuộc chinh phạt xứ Kalinga, mà nay là bang Olisa, khi ngài mới lên ngôi.

                                         
                   
                                Vua A-dục và  Tiểu Lục Địa Ấn Độ dưới sự cai trị của Ông

150 000 người bị bắt mang đi, 100 000 người bị giết tại chỗ, và con số người chết còn nhiều hơn thế gấp bao nhiêu lần, điều này khiến cho Trẫm vô cùng hối hận vì mình đã giày xéo một đất nước chưa từng nếm gót giày xâm lược, và gây tang tóc lưu đày cho vô số dân Kalinga. Đây là nỗi đau đớn xót xa của Trẫm.

                     
                         Kalinga vùng đất mà vua A-dục đã chinh phục và sau đó tỏ ra hối hận

Trong cung cách đối xử với thần dân cũng như với các tôn giáo khác, vua A-dục đã tỏ ra bao dung độ lượng. Ngài cho rằng mọi tôn giáo đều tốt và khuyên dân chúng nên tìm hiểu và tôn trọng tín ngưỡng của người khác. Dù vậy, vua A-dục vẫn xem Phật Giáo là tôn giáo chính còn những tôn giáo còn lại là thứ cấp. Quan điểm đó đã trở thành một điểm đặc trưng của tôn giáo Ấn Độ. Ví dụ như dưới triều vua A-dục, tôn giáo dựa trên kinh Veda với những nghi thức cúng tế đẫm máu đã tránh chuyện sát sinh và chuyển biến dần dần thành Ấn Giáo như ta biết ngày nay. Ngoài tôn giáo cổ Ấn Độ cũng sinh ra những lý thuyết chính trị vì một ông vua dù có mộ đạo đến đâu đi nữa cũng phải quan tâm đến việc duy trì quyền lực và bảo vệ bờ cõi.

Thành ra người ta đã thấy bắt đầu xuất hiện những cuốn cẩm nang dạy cho nhà vua thuật trị nước căn bản. Nổi tiếng nhất có lẽ là cuốn Apha (*) sastraKhi bị mắt kẹt giữa hai nước hùng mạnh hơn, một vị vua hoặc phải tìm sự bảo hộ của nước nào mạnh hơn hay đáng tin cậy nhất, hoặc phải giữ hòa với cả hai dưới cùng một điều kiện, rồi sau đó dùng ngoại giao để tìm mọi cách lũng đoạn quan hệ giữa các đối phương. Khi họ bận chống nhau thì chẳng còn ai bận tâm thôn tính mình cả. Cuốn Apha sastra còn nói đến cách trồng rừng, tìm khoáng sản, nuôi voi, đưa ra những luật lệ về xây dựng, bắt và xử các tội phạm. Và khi cảnh giác nhà vua về thói lương lẹo để trốn thuế của thần dân thì sách này đã diễn tả khá đầy đủ.      


Có đến 40 cách khai láo để trốn thuế, tỷ như cái đã bán trước thì ghi là bán sau, cái bán sau thì được ghi là bán trước, cái dễ bán thì khai là chưa bán, cái khó bán thì khai là bán rồi, cái đã thu tiền rồi thì khai là chưa thu, cái mới thu được một phần thì ghi là đã thu được hết, còn khi đã thu được hết thì ghi là chưa thu đủ.

Thì ra mánh khóe của các con buôn qua bao thế kỷ cũng chẳng thay đổi bao nhiêu!

Chữ "Apha" trong cuốn Apha sastra có nghĩa là sự tích lũy quyền lực và tài sản và đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của một người đàn ông Ấn sung túc. Nhưng khi về già ông ta sẽ phải chia tài sản, rời bỏ mọi chuyện để rồi sống khổ hạnh cho đến cuối đời. Thời trai trẻ thì một phần cuộc sống của ông ta tập trung vào việc tìm khoái lạc, tức là karma. Từ karma này nằm trong tựa của một cuốn sách nổi tiếng của cổ Ấn Độ đó là cuốn Karma Sutra, tạm dịch là "khoái lạc kinh".(7)

Cuốn Karma sutra không phải chỉ nói về tình dục mà thôi. Nó không đơn thuần là một cẩm nang về nghệ thuật làm tình mà là một ghi chép về lối sống của giới thượng lưu quí tộc tại các thành thị cổ Ấn Độ. Đó là thành phần gọi là nagakara hay là thị dân sống từ khoảng thế kỷ thứ Hai đến thế kỷ thứ Tư sau Công Nguyên.(7)

Mỗi buổi sáng sau khi thức dậy người gia chủ phải súc miệng, rửa răng, bôi kem và nước hoa vào mình, nhỏ vài giọt thuốc cho sáng mắt, bôi tý son vào môi, mang vào mình một số trang sức và xong lại ngắm mình trong gương xem đã chỉnh tề hay chưa. Sau đó nhai một miếng trầu gém gia vị cho thơm miệng rồi mới bắt đầu các công việc khác.

Mỗi sáng đều phải trau chuốt dung nhan đến như thế thí các đấng đàn ông thành thị chẳng còn đâu thì giờ để làm cái mà họ gọi là "công việc khác". Nhưng nói công việc cho nó oai chứ phần lớn thời gian của quí ông là để ăn nhậu vui chơi. Và cao điểm là vào buổi tối, khi quí ông cùng với bạn bè đàn đúm với những người bạn gái mà ta tạm gọi là "dễ tính ". Và phải chăng đó là lúc mà họ đem "khoái lạc kinh" ra để mà tụng? Quyển hai của bộ Karma sutra mô tả nghệ thuật làm tình rất siêu việt, nhưng đó chỉ là một trong số sáu hay bảy quyển trong toàn bộ cái gọi là "khoái lạc kinh". Nó cho thấy người cổ Ấn Độ có một khái niệm rất phóng khoáng và sâu sắc về khoái lạc.

Cuộc sống nhàn rỗi đầy khoái lạc là lý tưởng của cổ Ấn Độ về một cuộc sống văn minh. Và gần đây hầu hết thế giới đều đã chia sẻ lý tưởng đó. Cho nên khoái cảm chủ nghĩa của Karma sutra hẳn nhiên rất là hấp dẫn. Nhưng nói cho cùng khi ta nói đóng góp của Ấn Độ vào nền văn minh của thế giới thì chúng ta phải quay trở lại với tôn giáo và sự bao dung. Cái đam mê kiến thức và tính bao dung uyển chuyển của truyền thống cổ Ấn Độ đã đưa tới một thế giới quan phóng khoáng hơn, đã giúp cho nền văn minh này tiếp tục thích nghi với những biến chuyển, cũng như chung sống và đối thoại với những nền văn minh khác. Đó là cơ hội tốt để phát huy nhân bản, và cũng là một đóng góp to lớn cho nền văn minh hiện đại.

Nội dung được trình bày bởi:
(1) Tiến Sĩ Julis Lipner - Đại học Cambrige
(2) Giáo Sư Daja Grystna - Đại Học Zaicour
(3) Giáo Sư Richard Kompret- Đại học Oxford
(4) Vernon Menski - Đại học Luân Đôn
(5) Dominique Vustajic - Viên nghiên cứu Y Sử Luân Đôn
(6) Tiến Sĩ Gomrich (?)
(7) Dave Ali                                                                                                                   

(Hình minh họa nguồn: wikipedia)