"Trong thế kỷ thứ Năm quả thật Athen có một chỗ đứng đặc biệt, bỡi vì đối với giới trí thức trên khắp lãnh thổ Hy Lạp Thị Quốc Athen là một thỏi nam châm về chính trị, nghệ thuật và tri thức.". (1)

Athen Hylạp
Ngày nay trên khắp thế giới, những vở bi kịch diễn tả tâm trạng của người Athen cách đây 2500 năm vẫn còn được đưa lên sân khấu, như vậy văn minh thế giới đã giàu thêm là nhờ có sự xuất hiện của bi kịch. Đó không phãi là một nghệ thuật siêu đẳng mà là một cách độc đáo để hiểu rõ thân phận con người. Vai trò của bi kịch trong việc kiến tạo một tư duy văn minh được giải thích như sau: "Bi kịch đưa lên sân khấu những cảnh tượng kinh khủng, ghê rợn và đáng tởm. Thế thì tại sao người ta đi xem bi kịch? Tôi cho rằng đó là vì sân khấu là một khoảng không gian hư cấu và người ta đến đó xem bi kịch như để thử sống qua những trạng huống tồi tệ nhất mà trí tưởng tượng có thể đem lại, để cảm nhận những đau khổ, dằn vặt, hay ám ảnh tội lỗi đến từ gia đình tan rã, xã hội phân hóa, tội phạm sát nhân...v.v. Từ kinh nghiệm đó khán giả của bi kịch có thể hiểu rõ hơn và đối phó tốt hơn với cuộc sống ở bên ngoài sân khấu.". (3)
Athen đã đưa ra những tình huống vô cùng bi thảm và nghiệt ngã vào những vở bi kịch. Trong ngôn ngữ Tây phương từ Oedipus nay được dùng để ám chỉ vấn đề loạn tình giữa mẹ và con, trong bi kịch Oedipus nhà vua đã cố gắng làm tất cả mọi chuyện để kháng cự một lời tiên tri ghê tởm của thần Apollo:
"...Định mệnh của ngươi là phải lấy Mẹ ngươi, ngươi sẽ cho ra đời những đứa con gớm giếc mà dưới ánh sáng mặt trời không ai dám nhìn. Ngươi sẽ giết Cha ngươi, người đã mang cho ngươi hơi thở..."
Nhưng rồi ruốt cuộc người hùng bi thương của Hy Lạp đã không thoát khỏi số mệnh. Người Athen không chỉ giỏi về bi kịch. Họ cũng đã phát minh ra hài kịch. "Dưới bóng che của bi kịch, hài kịch dường như đã trưởng thành như một phản ứng, như thể người Athen muốn cho ta thấy rằng không phải chỉ nếm mùi đau khổ con người mới hiểu được cuộc đời. Qua hài kịch người Athen cho rằng cái cười cũng hiệu nghiệm như tiếng khóc để thấu hiểu thân phận của con người.".(3)
Người Athen đã suy ngẫm nhiều về bản chất con người. Trong thời cổ Athen này hai nhà tư tưởng lớn đã xuất hiện, đó là Plato và Aristotle. Plato sinh năm 427 BC. Sau thời kỳ hoàng kim của các kịch gia lớn Plato đã bắt đầu có ảnh hưởng rộng rãi với môn Phylosophy, tiếng Hy Lạp có nghĩa là "yêu thích kiến thức và sự thông thái", tức là Triết học. "Plato là người khai sinh ra Triết học, một môn học dựa trên lý luận và chủ yếu quan tâm đến cái tư duy cội rể về thực tại và giá trị. Đó là khái niệm nền móng cho Triết học mà tôi cho là Plato đã nghiệm ra.". (3)
Sự nghiệp Triết học của Plato đã được một hậu bối không kém thông thái tiếp nối, đó là Aristotle người phân chia Triết học thành nhiều phần khác nhau, và kiến thức của ông thật là sâu rộng. Aristotle đã khai phá Metaphysics hay siêu hình học trong cái ta gọi là triết lý cơ bản của các môn như là Khoa Học, Tâm Lý Học, lý thuyết Văn Học, Đạo Đức Học, Chính Trị Học và Tu Từ Học hay còn gọi là Hùng Biện Học. Trong lĩnh vực khoa học thực nghiệm nhất là trong Sinh Vật Học Aristotle cũng là người đi tiên phong. Và ngay đến bây giờ trong các ngành học đó ảnh hưởng của ông vẫn còn. Ngoài Plato và Aristotle là hai nhà tư tưởng nổi bật nhất, nhiều thức giả của cổ Athen từ nhiều năm trước đã tìm cách lý giải những hiện tượng tự nhiên và họ không còn cho chúng là những hành động của thần linh. "Trong Vật Lý cũng như trong Y Học văn minh Athen đã thôi thúc người ta lý luận để tìm ra những lời giải. Một thí dụ điển hình là một bộ Luận Thuyết về Y Học ra đời vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Trong đó chứng động kinh không còn được xem như một hình phạt của quỉ thần mà tác giải đã đưa ra một giải thích bằng sinh lý học. Tuy giải thích này không giống như Y học hiện đại nhưng qua đó ta thấy người Athen đã đưa ra một nguyên lý cơ bản của khoa học để thay thế cho siêu nhiên. Những Triết Gia kiêm Khoa Học Gia Hy Lạp cho rằng tất cả những hiện tượng tự nhiên đều được cấu thành từ một số các nguyên tố cho nên cùng có một số căn nguyên. Họ dần dà đi đến một giả thuyết rằng vạn vật, kể cả không khí vô hình, đều được tạo thành bỡi những hạt cực nhỏ, nhỏ đến nỗi chúng không thể nào nhỏ hơn đuợc, và họ gọi chúng là Atom, có nghĩa là "cái không thể phân chia được nữa", tức là nguyên tử. Tuy lý thuyết nguyên tử ngày nay đã tiến xa so với thời đó, các nhà tư tưởng Hy Lạp ở Athen vào khoảng thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên đã cho chúng ta một khái niệm cơ bản về vật lý vũ trụ.". (3)
Chưa thỏa mãn với nguyên tố cấu thành của vạn vật, nền tư duy của Athen còn tìm ra nguyên lý căn bản của một xã hội văn minh, đó là Dân Chủ. Khái niệm quyền lực phải thuộc về nhân dân là một đóng góp khổng lồ cho văn minh của nhân loại. Mặt dù chế độ dân chủ tại Athen khác xa bất kỳ hình thức dân chủ hiện đại nào. Athen lúc đó chỉ có khoảng 40 000 công dân có đầy đủ quyền chính trị mà thôi, thành ra Athen có thể triệu tập một nghị viện để bàn thảo về mọi quyết định. " Nghị viện cổ Athen chẳng qua là một cuộc họp của chừng 6000 công dân tự nguyện đến họp vào một hôm nào đó. Tuy có vẻ tùy hứng, nghị viện công dân này có quyền cao hơn nhà nước. Trong nghị viện này không có chuyên gia, không có luật sư và cũng không có một chính trị gia chuyên nghiệp nào. Tất cả mọi chức vụ, mọi vai trò có trách nhiệm đều được chọn qua cách bốc thăm chứ không bầu cử gì cả.". (4)
Người Hy Lạp xem việc bầu cử để chọn ra một người tài giỏi nhất cho một chức vụ nào đó là một cách lựa chọn theo kiểu quý tộc. Người Athen tin rằng đó chưa phải là tuyệt đối dân chủ vì cơ hội tham chính vẫn không đồng đều. Và nếu muốn cho đồng đều thì phải chọn bất kỳ một công dân nào đó theo kiểu hên xui may rủi. Ngay vào thời đó đã có người không đồng ý với lối dân chủ như vậy cho nên không phải tất cả các Thị Quốc Hy Lạp đều noi gương Athen. Còn triết gia Plato thì ông cực lực chống lại dân chủ kiểu Athen. Ông cho rằng việc chọn những người lãnh đạo là hết sức quan trọng, không thể nào làm như xổ số được. "Plato tin rằng việc phán đoán về thiện-ác, tà-chính, đúng-sai là thuộc phạm trù chân lý của khoa học và chỉ có ai đã trải qua một quá trình rèn luyện tu tập kỹ lưỡng mới có cơ đạt được những chân lý đó. Plato tin rằng người lãnh đạo phải như vậy thì mới có thể điều hành cộng đồng một cách đúng đắn. Thành ra ngay từ trong tư duy, căn bản của nền dân chủ Athen đã có khiếm khuyết."(1). Tuy nhiên trong thực hành người Athen cũng không tỏ vẻ quá tuyệt đối. Họ quả là có bỏ phiếu để bầu các tướng lãnh chỉ huy quân đội và để tránh chọn nhầm một cá nhân bất tài vô tướng thì họ thường bốc thăm để chọn ra một ban điều hành. Chính vì vậy mà họ đã dựng nên một chính quyền hữu hiệu hơn hầu hết các chính quyền quý tộc hay quân chủ cùng thời với họ, trong khi Plato tin rằng nhà lãnh đạo phải là một Triết gia, it nhất cũng phải như là Socrates, người thầy trí tuệ cao thâm của ông.
Ngày nay ai cũng có thể dễ dàng đồng ý với Plato về tầm quan trọng của giáo dục nhưng đòi hỏi một nhà lãnh đạo phải bỏ ra 15 năm học toán để chuẩn bị cho triết học thì hơi quá. Tuy nhiên ta nên biết quan niệm cho rằng cấu trúc cơ bản của thực tại dựa trên toán học đã trở nên rất phổ biến tại Athen vào thời Plato. "Người Athen trọng toán học là bỡi vì môn này thể hiện khả năng cần có của chiến sĩ." (5).
Plato kêu gọi dân chúng học toán qua bốn môn: Số Học, Hình Học, Âm Nhạc và Thiên Văn. Ông nói: "Ta cần Số Học để kiểm điểm và ước lượng quân số. Ta cần có Hình Học để bày binh bố trận. Ta cần có Âm Nhạc để huấn luyện họ. Ta cần Thiên Văn để chọn đúng mùa mà ra quân.". Thành ra bốn lý do mà Plato đưa ra để cần phải học toán đều là quân sự cả.
Một trong số những học trò giỏi của Plato là Aristotle. Ông cũng có quan điểm rất rõ ràng về trị quốc. Đối với Aristotle câu hỏi chính là Nhà Nước để làm gì và cho ai? Theo ông mục tiêu của nhà nước là phải mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp cho nhân đân. Tốt đẹp đây được hiểu theo nghĩa đạo đức. Trong cuốn Politics hay Chính Trị Luận, Aristotle viết:
"...thành phố tốt đẹp nhất là nơi mà dân chúng mãn nguyện và sung tức, tình trạng này không thể có nếu dân chúng không làm những việc tốt. Và một thành phố cũng như một cá nhân không thể hành động tốt nếu không có tri thức và tính hướng thiện. Tính quả cảm cùng với công lý và đạo đức của một thành phố cũng tương tự như đức tính của một cá nhân, đó là: công bằng, khôn ngoan và hiền lương..."
Ta có thể cho ý tưởng cao thượng đó của Aristotle là một nguyên lý để tạo ra một xã hội văn minh. Nhưng đến đây thì tính đẳng cấp và chế độ nô lệ của cổ Athen đã đem lại một khó khăn lớn. Aristotle cho rằng chỉ có những ai có tiền bạc và thời giờ nhàn rỗi thì mới có thể hưởng thụ được những tiện nghi của văn minh và mới có cơ hội đóng góp vào đó. Như vậy thì văn minh dân chủ là phúc lợi của giới thống trị sang giàu và phải được xây dựng trên mồ hôi nước mắt của giới lao động và giới nô lệ. Nên biết thành phần nô lệ của cổ Athen toàn là ngoại nhân. Họ thường bị đối xử tàn tệ, thậm chí còn bị chính quyền tra tấn vì người ta tin rằng kẻ nô lệ không bao giờ nói thật nếu không bị tra tấn. Người cổ Athen có lẽ không hiểu được quan niệm về quyền tự do của phương Tây hiện nay. "Người Athen chấp nhận rằng quyền tự do tham gia vào đời sống chính trị là một đặc tính căn bản của nền dân chủ. Nhưng họ không mấy hiểu khái niệm về quyền tự do được sống ngoài lề chính trị. Tại cổ Athen, đời tư và đời công quyện vào nhau bỡi vì mỗi công dân thường đều có thể đưa ra những đề nghị tại Nghị Viện và có thể tham gia tiến trình chính trị ở tất cả mọi cấp. Theo Aristotle, định nghĩa căn bản của nền dân chủ Athen là "thay phiên nhau cai trị và bị trị", tức là không phân biệt giới cai trị và giới bị trị.". (4)
Nền dân chủ kiểu Athen hay ở chỗ là mỗi công dân đều có cơ hội tham gia vào chính trị, thành ra nếu những quyết định của nhà nước có đi ngược lại với quyền lợi riêng tư thì cá nhân đó cũng phải chịu. Nhưng trong một trường hợp hiếm hoi nào đó khi một công dân bất phục nhà nước thì người đó phải dựa vào nhũng giá trị bất biến và cao hơn những giá trị mà nhà nước tìm cách áp đặt. Đó thường là những giá trị tâm linh hay là đạo đức. Trong vở bi kịch Antigone người anh của nữ nhân vật chính Antigone đã nổi loạn chống lại Thị Quốc của anh và bị giết. Antigone đã chôn cất anh mình một cách tử tế, ngược với lệnh của Creon, vua Thị Quốc này. Antigone bị vua Creon hạch hỏi như vầy:
Có mấy ai thời đó không những dám cãi vua mà còn dám ám chỉ là quyền thống trị của nhà vua chỉ là phù du?
Nhưng đã dám bất phục tức là dám chết. Một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp đã chấp nhận số phận đó. Đó là Socrates, thầy của Plato, người đã lãnh án tử hình bằng thuốc độc. Nhiều người coi cái chết của một nhà tư tưởng độc lập nổi tiếng nhất Hy Lạp đó là một vết nhơ cho nền văn minh Athen.

Athen Hylạp
Trong hai thế kỷ thứ Năm và thứ Tư trước Công Nguyên đã có một sự bùng nổ kỳ diệu của tư duy sáng tạo tại Athen. Sau chiến thắng chống lại đế quốc Ba Tư vào đầu thế kỷ thứ Năm, Athen đã tập trung phát triển bốn lãnh vực, đó là: Chính Trị, Kịch Nghệ, Triết Học và Nghệ Thuật Tạo Hình mà đặc biệt là Điêu Khắc. Trong tất cả các nỗ lực đó chính trị là trọng điểm. "Hầu hết những xung khắc quan trọng trong xã hội Athen được diễn lại trên sân khấu đều nói lại các vấn đề lớn liên quan đến khái niệm Nhà Nước như là chế độ Dân Chủ, như tương quan giữa Công Dân và Nhà Nước, như thuật lãnh đạo quần chúng trong một nền dân chủ hay trong các thể chế khác. Sân khấu cổ Athen còn xét về quan hệ giữa gia đình và nhà nước mà thường là suy tư về những khổ đau tang tóc mà gia đình phải hứng chịu khi nhà nước đưa họ vào vòng chinh chiến.". (2)
Ngày nay trên khắp thế giới, những vở bi kịch diễn tả tâm trạng của người Athen cách đây 2500 năm vẫn còn được đưa lên sân khấu, như vậy văn minh thế giới đã giàu thêm là nhờ có sự xuất hiện của bi kịch. Đó không phãi là một nghệ thuật siêu đẳng mà là một cách độc đáo để hiểu rõ thân phận con người. Vai trò của bi kịch trong việc kiến tạo một tư duy văn minh được giải thích như sau: "Bi kịch đưa lên sân khấu những cảnh tượng kinh khủng, ghê rợn và đáng tởm. Thế thì tại sao người ta đi xem bi kịch? Tôi cho rằng đó là vì sân khấu là một khoảng không gian hư cấu và người ta đến đó xem bi kịch như để thử sống qua những trạng huống tồi tệ nhất mà trí tưởng tượng có thể đem lại, để cảm nhận những đau khổ, dằn vặt, hay ám ảnh tội lỗi đến từ gia đình tan rã, xã hội phân hóa, tội phạm sát nhân...v.v. Từ kinh nghiệm đó khán giả của bi kịch có thể hiểu rõ hơn và đối phó tốt hơn với cuộc sống ở bên ngoài sân khấu.". (3)
Athen đã đưa ra những tình huống vô cùng bi thảm và nghiệt ngã vào những vở bi kịch. Trong ngôn ngữ Tây phương từ Oedipus nay được dùng để ám chỉ vấn đề loạn tình giữa mẹ và con, trong bi kịch Oedipus nhà vua đã cố gắng làm tất cả mọi chuyện để kháng cự một lời tiên tri ghê tởm của thần Apollo:
"...Định mệnh của ngươi là phải lấy Mẹ ngươi, ngươi sẽ cho ra đời những đứa con gớm giếc mà dưới ánh sáng mặt trời không ai dám nhìn. Ngươi sẽ giết Cha ngươi, người đã mang cho ngươi hơi thở..."
Nhưng rồi ruốt cuộc người hùng bi thương của Hy Lạp đã không thoát khỏi số mệnh. Người Athen không chỉ giỏi về bi kịch. Họ cũng đã phát minh ra hài kịch. "Dưới bóng che của bi kịch, hài kịch dường như đã trưởng thành như một phản ứng, như thể người Athen muốn cho ta thấy rằng không phải chỉ nếm mùi đau khổ con người mới hiểu được cuộc đời. Qua hài kịch người Athen cho rằng cái cười cũng hiệu nghiệm như tiếng khóc để thấu hiểu thân phận của con người.".(3)
Người Athen đã suy ngẫm nhiều về bản chất con người. Trong thời cổ Athen này hai nhà tư tưởng lớn đã xuất hiện, đó là Plato và Aristotle. Plato sinh năm 427 BC. Sau thời kỳ hoàng kim của các kịch gia lớn Plato đã bắt đầu có ảnh hưởng rộng rãi với môn Phylosophy, tiếng Hy Lạp có nghĩa là "yêu thích kiến thức và sự thông thái", tức là Triết học. "Plato là người khai sinh ra Triết học, một môn học dựa trên lý luận và chủ yếu quan tâm đến cái tư duy cội rể về thực tại và giá trị. Đó là khái niệm nền móng cho Triết học mà tôi cho là Plato đã nghiệm ra.". (3)
Sự nghiệp Triết học của Plato đã được một hậu bối không kém thông thái tiếp nối, đó là Aristotle người phân chia Triết học thành nhiều phần khác nhau, và kiến thức của ông thật là sâu rộng. Aristotle đã khai phá Metaphysics hay siêu hình học trong cái ta gọi là triết lý cơ bản của các môn như là Khoa Học, Tâm Lý Học, lý thuyết Văn Học, Đạo Đức Học, Chính Trị Học và Tu Từ Học hay còn gọi là Hùng Biện Học. Trong lĩnh vực khoa học thực nghiệm nhất là trong Sinh Vật Học Aristotle cũng là người đi tiên phong. Và ngay đến bây giờ trong các ngành học đó ảnh hưởng của ông vẫn còn. Ngoài Plato và Aristotle là hai nhà tư tưởng nổi bật nhất, nhiều thức giả của cổ Athen từ nhiều năm trước đã tìm cách lý giải những hiện tượng tự nhiên và họ không còn cho chúng là những hành động của thần linh. "Trong Vật Lý cũng như trong Y Học văn minh Athen đã thôi thúc người ta lý luận để tìm ra những lời giải. Một thí dụ điển hình là một bộ Luận Thuyết về Y Học ra đời vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Trong đó chứng động kinh không còn được xem như một hình phạt của quỉ thần mà tác giải đã đưa ra một giải thích bằng sinh lý học. Tuy giải thích này không giống như Y học hiện đại nhưng qua đó ta thấy người Athen đã đưa ra một nguyên lý cơ bản của khoa học để thay thế cho siêu nhiên. Những Triết Gia kiêm Khoa Học Gia Hy Lạp cho rằng tất cả những hiện tượng tự nhiên đều được cấu thành từ một số các nguyên tố cho nên cùng có một số căn nguyên. Họ dần dà đi đến một giả thuyết rằng vạn vật, kể cả không khí vô hình, đều được tạo thành bỡi những hạt cực nhỏ, nhỏ đến nỗi chúng không thể nào nhỏ hơn đuợc, và họ gọi chúng là Atom, có nghĩa là "cái không thể phân chia được nữa", tức là nguyên tử. Tuy lý thuyết nguyên tử ngày nay đã tiến xa so với thời đó, các nhà tư tưởng Hy Lạp ở Athen vào khoảng thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên đã cho chúng ta một khái niệm cơ bản về vật lý vũ trụ.". (3)
Chưa thỏa mãn với nguyên tố cấu thành của vạn vật, nền tư duy của Athen còn tìm ra nguyên lý căn bản của một xã hội văn minh, đó là Dân Chủ. Khái niệm quyền lực phải thuộc về nhân dân là một đóng góp khổng lồ cho văn minh của nhân loại. Mặt dù chế độ dân chủ tại Athen khác xa bất kỳ hình thức dân chủ hiện đại nào. Athen lúc đó chỉ có khoảng 40 000 công dân có đầy đủ quyền chính trị mà thôi, thành ra Athen có thể triệu tập một nghị viện để bàn thảo về mọi quyết định. " Nghị viện cổ Athen chẳng qua là một cuộc họp của chừng 6000 công dân tự nguyện đến họp vào một hôm nào đó. Tuy có vẻ tùy hứng, nghị viện công dân này có quyền cao hơn nhà nước. Trong nghị viện này không có chuyên gia, không có luật sư và cũng không có một chính trị gia chuyên nghiệp nào. Tất cả mọi chức vụ, mọi vai trò có trách nhiệm đều được chọn qua cách bốc thăm chứ không bầu cử gì cả.". (4)
Người Hy Lạp xem việc bầu cử để chọn ra một người tài giỏi nhất cho một chức vụ nào đó là một cách lựa chọn theo kiểu quý tộc. Người Athen tin rằng đó chưa phải là tuyệt đối dân chủ vì cơ hội tham chính vẫn không đồng đều. Và nếu muốn cho đồng đều thì phải chọn bất kỳ một công dân nào đó theo kiểu hên xui may rủi. Ngay vào thời đó đã có người không đồng ý với lối dân chủ như vậy cho nên không phải tất cả các Thị Quốc Hy Lạp đều noi gương Athen. Còn triết gia Plato thì ông cực lực chống lại dân chủ kiểu Athen. Ông cho rằng việc chọn những người lãnh đạo là hết sức quan trọng, không thể nào làm như xổ số được. "Plato tin rằng việc phán đoán về thiện-ác, tà-chính, đúng-sai là thuộc phạm trù chân lý của khoa học và chỉ có ai đã trải qua một quá trình rèn luyện tu tập kỹ lưỡng mới có cơ đạt được những chân lý đó. Plato tin rằng người lãnh đạo phải như vậy thì mới có thể điều hành cộng đồng một cách đúng đắn. Thành ra ngay từ trong tư duy, căn bản của nền dân chủ Athen đã có khiếm khuyết."(1). Tuy nhiên trong thực hành người Athen cũng không tỏ vẻ quá tuyệt đối. Họ quả là có bỏ phiếu để bầu các tướng lãnh chỉ huy quân đội và để tránh chọn nhầm một cá nhân bất tài vô tướng thì họ thường bốc thăm để chọn ra một ban điều hành. Chính vì vậy mà họ đã dựng nên một chính quyền hữu hiệu hơn hầu hết các chính quyền quý tộc hay quân chủ cùng thời với họ, trong khi Plato tin rằng nhà lãnh đạo phải là một Triết gia, it nhất cũng phải như là Socrates, người thầy trí tuệ cao thâm của ông.
Ngày nay ai cũng có thể dễ dàng đồng ý với Plato về tầm quan trọng của giáo dục nhưng đòi hỏi một nhà lãnh đạo phải bỏ ra 15 năm học toán để chuẩn bị cho triết học thì hơi quá. Tuy nhiên ta nên biết quan niệm cho rằng cấu trúc cơ bản của thực tại dựa trên toán học đã trở nên rất phổ biến tại Athen vào thời Plato. "Người Athen trọng toán học là bỡi vì môn này thể hiện khả năng cần có của chiến sĩ." (5).
Plato kêu gọi dân chúng học toán qua bốn môn: Số Học, Hình Học, Âm Nhạc và Thiên Văn. Ông nói: "Ta cần Số Học để kiểm điểm và ước lượng quân số. Ta cần có Hình Học để bày binh bố trận. Ta cần có Âm Nhạc để huấn luyện họ. Ta cần Thiên Văn để chọn đúng mùa mà ra quân.". Thành ra bốn lý do mà Plato đưa ra để cần phải học toán đều là quân sự cả.
Một trong số những học trò giỏi của Plato là Aristotle. Ông cũng có quan điểm rất rõ ràng về trị quốc. Đối với Aristotle câu hỏi chính là Nhà Nước để làm gì và cho ai? Theo ông mục tiêu của nhà nước là phải mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp cho nhân đân. Tốt đẹp đây được hiểu theo nghĩa đạo đức. Trong cuốn Politics hay Chính Trị Luận, Aristotle viết:
"...thành phố tốt đẹp nhất là nơi mà dân chúng mãn nguyện và sung tức, tình trạng này không thể có nếu dân chúng không làm những việc tốt. Và một thành phố cũng như một cá nhân không thể hành động tốt nếu không có tri thức và tính hướng thiện. Tính quả cảm cùng với công lý và đạo đức của một thành phố cũng tương tự như đức tính của một cá nhân, đó là: công bằng, khôn ngoan và hiền lương..."
Ta có thể cho ý tưởng cao thượng đó của Aristotle là một nguyên lý để tạo ra một xã hội văn minh. Nhưng đến đây thì tính đẳng cấp và chế độ nô lệ của cổ Athen đã đem lại một khó khăn lớn. Aristotle cho rằng chỉ có những ai có tiền bạc và thời giờ nhàn rỗi thì mới có thể hưởng thụ được những tiện nghi của văn minh và mới có cơ hội đóng góp vào đó. Như vậy thì văn minh dân chủ là phúc lợi của giới thống trị sang giàu và phải được xây dựng trên mồ hôi nước mắt của giới lao động và giới nô lệ. Nên biết thành phần nô lệ của cổ Athen toàn là ngoại nhân. Họ thường bị đối xử tàn tệ, thậm chí còn bị chính quyền tra tấn vì người ta tin rằng kẻ nô lệ không bao giờ nói thật nếu không bị tra tấn. Người cổ Athen có lẽ không hiểu được quan niệm về quyền tự do của phương Tây hiện nay. "Người Athen chấp nhận rằng quyền tự do tham gia vào đời sống chính trị là một đặc tính căn bản của nền dân chủ. Nhưng họ không mấy hiểu khái niệm về quyền tự do được sống ngoài lề chính trị. Tại cổ Athen, đời tư và đời công quyện vào nhau bỡi vì mỗi công dân thường đều có thể đưa ra những đề nghị tại Nghị Viện và có thể tham gia tiến trình chính trị ở tất cả mọi cấp. Theo Aristotle, định nghĩa căn bản của nền dân chủ Athen là "thay phiên nhau cai trị và bị trị", tức là không phân biệt giới cai trị và giới bị trị.". (4)
Nền dân chủ kiểu Athen hay ở chỗ là mỗi công dân đều có cơ hội tham gia vào chính trị, thành ra nếu những quyết định của nhà nước có đi ngược lại với quyền lợi riêng tư thì cá nhân đó cũng phải chịu. Nhưng trong một trường hợp hiếm hoi nào đó khi một công dân bất phục nhà nước thì người đó phải dựa vào nhũng giá trị bất biến và cao hơn những giá trị mà nhà nước tìm cách áp đặt. Đó thường là những giá trị tâm linh hay là đạo đức. Trong vở bi kịch Antigone người anh của nữ nhân vật chính Antigone đã nổi loạn chống lại Thị Quốc của anh và bị giết. Antigone đã chôn cất anh mình một cách tử tế, ngược với lệnh của Creon, vua Thị Quốc này. Antigone bị vua Creon hạch hỏi như vầy:
"....
-Tại sao ngươi dám cả gan chống lại lệnh vua phép nước?
-Bề tôi phải làm như vậy vì bề tôi tin rằng nhà vua cũng chỉ là con người, cho nên chiếu dụ của Bệ Hạ có quyền uy đến đâu cũng không thể qua mặt được những thần linh, cũng như không thể đi ngược lại với những truyền thống vĩ đại bất thành văn đã lưu truyền từ đời này sang đời khác..."
Có mấy ai thời đó không những dám cãi vua mà còn dám ám chỉ là quyền thống trị của nhà vua chỉ là phù du?
Nhưng đã dám bất phục tức là dám chết. Một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp đã chấp nhận số phận đó. Đó là Socrates, thầy của Plato, người đã lãnh án tử hình bằng thuốc độc. Nhiều người coi cái chết của một nhà tư tưởng độc lập nổi tiếng nhất Hy Lạp đó là một vết nhơ cho nền văn minh Athen.
Socrates và chén thuốc độc
Thế thì tại sao Socrates phải chết?
"Socrates vốn không bảo vệ quyền bất phục chế độ của cá nhân. Socrates đã bị cộng đồng đem ra xử vì tội đã dạy dỗ một đám chính trị gia cánh hữu là những người đã tạo ra một chính quyền khủng bố khuynh đảo nền dân chủ. Cộng đồng cho rằng là sư phụ của những nhà độc tài tàn bạo đó Socrates phải chịu trách nhiệm. Socrates nói cách lý giải đó là sai, nhưng một khi công dân Athen đã kết án ông thì ông chấp nhận quyết định đó, tức là chịu uống thuốc độc chứ không thắc mắc.". (4)
Thành ra cái dở của nền dân chủ Athen là công dân không thể nghĩ đến chuyện chống lại nhà nước. Athen còn dung dưỡng chế độ nô lệ và đè nén phụ nữ. Trong thế giới cổ Hy Lạp, nam giới được xem như là biểu hiệu của những đức tính như là biết tự chế, biết hành xử theo lý trí và biết duy trì phong độ nơi công cộng. Còn nữ giới thì bị cho là không biết suy nghĩ, kém tự chế, duy cảm hơn là duy lý, và về tình dục thì không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Nói tóm lại nữ giới bị xem là một mối nguy cho bản thân họ và cho cộng đồng của họ. Đó chính là lý do mà thành phần nam giới thống trị đã đưa ra để cấm nữ giới sở hữu đất đai, hạn chế sự đi lại của họ và không cho họ dùng những chất kích thích của nam giới như là rượu.
Như vậy thì làm đàn bà Hy Lạp còn có ý nghĩa gì cao quí hay không?
"Trong khi đàn ông Hy Lạp phải hành xử theo các mẫu mực mà không được tự vấn, băn khoăn hay bị chi phối bỡi những cá tính phức tạp thì đàn bà Hy Lạp được tự do bộc lộ tình cảm và cá tính của họ hơn. Một điều rất đáng chú ý là tất cả những nhân vật nổi bật của bi kịch Hy Lạp đều là phái nữ.". (4)
Qua các nhân vật nữ mà thường là do nam diễn viên cải trang đóng đó thì người Athen đi xem bi kịch cũng có thể sống qua những tình cảm sôi động. Nam giới Hy Lạp nhờ vậy về tình cảm cũng có nơi để giải quyết những ấm ức đầy cảm tính do cuộc sống gò bó theo khuôn mẫu tạo nên. Một hậu quả nữa của khuôn mẫu tình cảm trong nam giới được thể hiện qua hiện tượng đồng tính luyến ái. Nhưng thái độ của người Athen về vấn đề này thật khác với ngày nay. "Đồng tính luyến ái trong cổ Hy Lạp được chấp nhận trong giới trai tráng từ 18 tới 30 tuổi mà thôi. Đàn ông sau tuổi 30 phải lấy vợ và lập gia đình, nếu vẫn còn đồng tính luyến ái thì không thể chấp nhận được. Đàn ông dụ dỗ con nít hay vị thành niên đều bị coi là sai trái và có thể bị truy tố về hình sự. Nhưng trong quan hệ đồng tính giữa trai tráng với nhau yếu tố tình dục không quan trọng bằng nghi thức xã hội qua đó người trẻ tuổi hơn được người bạn đường nhiều kinh nghiệm hơn hướng dẫn trong những giao tiếp xã hội.". (4)
Có thể người Hy Lạp cũng đã lý tưởng hóa quan hệ đồng tính mà biểu hiện rõ nét nhất là trong mỹ thuật, trong kiến trúc đền đài, đồ gốm, điêu khắc mà người Hy Lạp đã đạt trình độ cao vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Lúc bấy giờ trong nhiều thể loại ta thấy có nhiều hình tượng khỏa thân mà tất cả đều là nam giới. Ngày nay con mắt hiện đại cũng dễ cảm nhận nét đẹp gọi là cổ điển đó, nhưng người Hy lạp thời bấy giờ đã tiêu chuẩn hóa cái đẹp bằng toán học, túc là sự cân đối phải tuân thủ những tỷ lệ mà họ cho là lý tưởng. "Người cổ Hy Lạp cho rằng hình vóc của thanh niên, đặc biệt là của một nam lực sĩ trẻ là cân đối nhất và đẹp nhất. Cố nhiên đó là thời mà sức vóc của trai tráng là một tài nguyên cần thiết để bảo vệ cho xứ sở, nhưng về sau thì Plato cho rằng những tỷ lệ hài hòa, nói nôm na là những số đo của thân thể, không chỉ biểu hiện cho cái đẹp mà còn có thể cho thấy cái đức. Như vậy Plato đã đưa ra một mối tương quan giữa cái Mỹ và cái Thiện.". (6)
Có lẽ Plato đã đi quá trớn trong việc lý tưởng hóa cái đẹp vì có biết bao người đẹp mã nhưng ác dạ.
Nhưng còn cái đẹp của nữ giới thì sao, bỡi vì về cuối thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên hình tượng nữ khỏa thân rất khêu gợi đã bắt đầu xuất hiện trong mỹ thuật Hy Lạp?
Thế rồi người Hy Lạp cũng lý tưởng hóa luôn cả hình tượng phụ nữ. "Một khi nữ thần tình yêu này đã hiện hữu dưới trần thế qua những pho tượng thì những tình cảm như là ngưỡng mộ, đam mê, thèm muốn càng tập trung hơn vào hình ảnh của người đàn bà. Đó là cuối thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên khi Đại Đế Hy Lạp Alexander đã chinh phục toàn bộ miền đông Địa Trung Hải, tức là lúc nhu cầu huấn luyện binh sĩ không còn nữa, và tình yêu giữa nam giới với nhau không còn thiết yếu như trước.".(5)
Đại Đế Alexander mất vào năm 332 BC, năm sau đó Aristotle cũng qua đời. Người Hy Lạp đã đóng góp nhiều cho văn minh của nhân loại, về số lượng cũng như về chất lượng. Họ đã tìm cách lý giải những vấn đề có ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Họ đã phân tích vấn đề một cách thẳng thắn, và những lĩnh vực Khoa Học, Nghệ Thuật và Triết Học mà họ khai phá bao quát hơn tất cả những gì các dân tộc khác đã làm tự cổ chí kim. Và trong quá trình đi tìm chân lý đó họ đã tìm ra nhiều lời giải rất tốt. Sau hơn 2200 năm di sản văn minh Hy Lạp vẫn khiến cho ta cảm thấy là tư duy của họ vẫn còn rất nhiều chất hiện đại.
"Socrates vốn không bảo vệ quyền bất phục chế độ của cá nhân. Socrates đã bị cộng đồng đem ra xử vì tội đã dạy dỗ một đám chính trị gia cánh hữu là những người đã tạo ra một chính quyền khủng bố khuynh đảo nền dân chủ. Cộng đồng cho rằng là sư phụ của những nhà độc tài tàn bạo đó Socrates phải chịu trách nhiệm. Socrates nói cách lý giải đó là sai, nhưng một khi công dân Athen đã kết án ông thì ông chấp nhận quyết định đó, tức là chịu uống thuốc độc chứ không thắc mắc.". (4)
Thành ra cái dở của nền dân chủ Athen là công dân không thể nghĩ đến chuyện chống lại nhà nước. Athen còn dung dưỡng chế độ nô lệ và đè nén phụ nữ. Trong thế giới cổ Hy Lạp, nam giới được xem như là biểu hiệu của những đức tính như là biết tự chế, biết hành xử theo lý trí và biết duy trì phong độ nơi công cộng. Còn nữ giới thì bị cho là không biết suy nghĩ, kém tự chế, duy cảm hơn là duy lý, và về tình dục thì không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Nói tóm lại nữ giới bị xem là một mối nguy cho bản thân họ và cho cộng đồng của họ. Đó chính là lý do mà thành phần nam giới thống trị đã đưa ra để cấm nữ giới sở hữu đất đai, hạn chế sự đi lại của họ và không cho họ dùng những chất kích thích của nam giới như là rượu.
Như vậy thì làm đàn bà Hy Lạp còn có ý nghĩa gì cao quí hay không?
"Trong khi đàn ông Hy Lạp phải hành xử theo các mẫu mực mà không được tự vấn, băn khoăn hay bị chi phối bỡi những cá tính phức tạp thì đàn bà Hy Lạp được tự do bộc lộ tình cảm và cá tính của họ hơn. Một điều rất đáng chú ý là tất cả những nhân vật nổi bật của bi kịch Hy Lạp đều là phái nữ.". (4)
Qua các nhân vật nữ mà thường là do nam diễn viên cải trang đóng đó thì người Athen đi xem bi kịch cũng có thể sống qua những tình cảm sôi động. Nam giới Hy Lạp nhờ vậy về tình cảm cũng có nơi để giải quyết những ấm ức đầy cảm tính do cuộc sống gò bó theo khuôn mẫu tạo nên. Một hậu quả nữa của khuôn mẫu tình cảm trong nam giới được thể hiện qua hiện tượng đồng tính luyến ái. Nhưng thái độ của người Athen về vấn đề này thật khác với ngày nay. "Đồng tính luyến ái trong cổ Hy Lạp được chấp nhận trong giới trai tráng từ 18 tới 30 tuổi mà thôi. Đàn ông sau tuổi 30 phải lấy vợ và lập gia đình, nếu vẫn còn đồng tính luyến ái thì không thể chấp nhận được. Đàn ông dụ dỗ con nít hay vị thành niên đều bị coi là sai trái và có thể bị truy tố về hình sự. Nhưng trong quan hệ đồng tính giữa trai tráng với nhau yếu tố tình dục không quan trọng bằng nghi thức xã hội qua đó người trẻ tuổi hơn được người bạn đường nhiều kinh nghiệm hơn hướng dẫn trong những giao tiếp xã hội.". (4)
Có thể người Hy Lạp cũng đã lý tưởng hóa quan hệ đồng tính mà biểu hiện rõ nét nhất là trong mỹ thuật, trong kiến trúc đền đài, đồ gốm, điêu khắc mà người Hy Lạp đã đạt trình độ cao vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Lúc bấy giờ trong nhiều thể loại ta thấy có nhiều hình tượng khỏa thân mà tất cả đều là nam giới. Ngày nay con mắt hiện đại cũng dễ cảm nhận nét đẹp gọi là cổ điển đó, nhưng người Hy lạp thời bấy giờ đã tiêu chuẩn hóa cái đẹp bằng toán học, túc là sự cân đối phải tuân thủ những tỷ lệ mà họ cho là lý tưởng. "Người cổ Hy Lạp cho rằng hình vóc của thanh niên, đặc biệt là của một nam lực sĩ trẻ là cân đối nhất và đẹp nhất. Cố nhiên đó là thời mà sức vóc của trai tráng là một tài nguyên cần thiết để bảo vệ cho xứ sở, nhưng về sau thì Plato cho rằng những tỷ lệ hài hòa, nói nôm na là những số đo của thân thể, không chỉ biểu hiện cho cái đẹp mà còn có thể cho thấy cái đức. Như vậy Plato đã đưa ra một mối tương quan giữa cái Mỹ và cái Thiện.". (6)
Có lẽ Plato đã đi quá trớn trong việc lý tưởng hóa cái đẹp vì có biết bao người đẹp mã nhưng ác dạ.
Nhưng còn cái đẹp của nữ giới thì sao, bỡi vì về cuối thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên hình tượng nữ khỏa thân rất khêu gợi đã bắt đầu xuất hiện trong mỹ thuật Hy Lạp?
Thế rồi người Hy Lạp cũng lý tưởng hóa luôn cả hình tượng phụ nữ. "Một khi nữ thần tình yêu này đã hiện hữu dưới trần thế qua những pho tượng thì những tình cảm như là ngưỡng mộ, đam mê, thèm muốn càng tập trung hơn vào hình ảnh của người đàn bà. Đó là cuối thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên khi Đại Đế Hy Lạp Alexander đã chinh phục toàn bộ miền đông Địa Trung Hải, tức là lúc nhu cầu huấn luyện binh sĩ không còn nữa, và tình yêu giữa nam giới với nhau không còn thiết yếu như trước.".(5)
Đại Đế Alexander mất vào năm 332 BC, năm sau đó Aristotle cũng qua đời. Người Hy Lạp đã đóng góp nhiều cho văn minh của nhân loại, về số lượng cũng như về chất lượng. Họ đã tìm cách lý giải những vấn đề có ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Họ đã phân tích vấn đề một cách thẳng thắn, và những lĩnh vực Khoa Học, Nghệ Thuật và Triết Học mà họ khai phá bao quát hơn tất cả những gì các dân tộc khác đã làm tự cổ chí kim. Và trong quá trình đi tìm chân lý đó họ đã tìm ra nhiều lời giải rất tốt. Sau hơn 2200 năm di sản văn minh Hy Lạp vẫn khiến cho ta cảm thấy là tư duy của họ vẫn còn rất nhiều chất hiện đại.
Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Christopher Thayler - Đại học Oxford
(2) Edide Hall - Chuyên gia kịch nghệ Hy Lạp
(3) Giáo Sư Oliver Thelflan - Đại Học Oxford
(4) Giáo Sư Oswen Muray - Đại Học Oxford
(5) John Onian - Đại Học East Anglia
(6) Ed Murlen - Sử gia nghệ thuật Hy Lạp
Hình minh họa nguồn internet
