15 Jul 2009

(04) Văn Minh Cổ Trung Quốc

Có thể nói rằng cho mãi đến những thế kỷ gần đây nếu ta được hỏi làm con dân của nước nào sướng nhất, văn hóa nào nhất trên thế giới thì chắc chắn câu trả lời sẽ là Trung Quốc. (1)

                          


Trong lịch sử có lúc người Hoa quả thật đã nghĩ rằng không thể nào có một nền văn minh khác tốt đẹp hơn nền văn minh của họ. Mùa màng tốt đẹp, quan chức thanh liêm, xã hội hòa thuận, người nghèo đói chẳng có bao nhiêu. Chính nhờ sự phồn vinh đó mà nền văn minh Trung Hoa đã kéo dài trong nhiều thế kỷ, và nền văn minh này đáng chú ý ở chỗ nó có tính tổ chức cao và liên tục lâu dài. Chẳng hạn như về chữ viết. "Tiếng Hoa là ngôn ngữ độc nhất mà cả chữ viết và tiếng nói đều có cùng một dạng với ngôn ngữ tổ đã xuất hiện vào khoảng 1000 năm trước Công Nguyên. Đó là một sự liên tục vô cùng lâu dài.".(2)

Người Hoa không phát minh ra chữ viết nhưng ngay từ ban đầu họ đã tôn trọng chữ viết như là một phương tiện truyền bá kiến thức. Không như những nền văn minh khác, Trung Quốc không tùy thuộc vào một giai cấp thư lại nhỏ nhoi mà là nước đầu tiên có một giai cấp trí thức đông đảo. Đó là một tiến bộ quan trọng của Văn Minh Nhân Loại. Thuở xưa tiếng Hoa được khắc lên xương hoặc đúc bằng thanh đồng. Cuốn sách cổ nhất gọi là Kinh Dịch cho thấy người Hoa cổ đại cũng muốn biết trước tương lai như những dân tộc khác. Nhưng họ cho rằng họ có thể tiên đoán mà không cần đến thần linh. " Đối với những nền văn minh lớn điều quan trọng là quan hệ giữa con người và Thượng Đế nhưng văn hóa Trung Hoa xem trọng khía cạnh xã hội và chính trị, tức là làm sao tổ chức sơn hà xã tắc cho đúng mới là cực kỳ quan trọng. Đối với người Hoa, làm người là phải biết cách xử thế và khắc phục tính vị kỷ bởi vì quyền cá nhân không quan trọng mấy trong văn hóa Trung Quốc.". (3)

Ngay từ khi bắt đầu có sử liệu, điều hành xã hội là ưu tiên hàng đầu của người Hoa. Họ tin rằng Trung Hoa đã có một thời đại hoàng kim khi từ vua chúa tới thần dân đều biết cách hành xử. Đó là các giai đoạn hơi huyền thoại hóa của triều Thương và triều Chu từ giữa thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ Bảy trước Công Nguyên. Nhưng rồi trong nhiều thế kỷ sau đó Trung Hoa đã trở thành bãi chiến trường khi bảy nước tranh nhau làm bá chủ. Thời loạn lạc này đã sản sinh ra nhiều nhà tư tưởng vĩ đại, mỗi người đều tìm cách thuyết phục các vị vương hầu rằng chỉ có sách lược của họ mới có thể thống nhất đất nước. Nổi tiếng nhất trong số này là Khổng Phu Tử. Khi họ Khổng còn sống thì chẳng có ai theo đạo của ông nhưng trong 2000 năm qua Khổng Giáo đã trở thành kim chỉ nang cho xã hội Trung Hoa và có lúc đã trở thành một ý thức hệ chính thống. "Khổng Giáo đề ra một xã hội được phân chia ngôi thứ rất cẩn thận, và mỗi cá nhân phải biết vị trí của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội để cư xử sao cho đúng. Quả thật đây là mộ hệ thống không bình đẳng vì quá trọng tuổi tác và trọng nam khinh nữ. Nhưng Khổng Giáo cho rằng chỉ khi nào tất cả mọi công dân đều biết hành xử theo vị trí của mình trong xã hội thì xã hội mới tồn tại và phát triển.". (3)

Khổng Tử đề cao một trật tự xã hội có tính đạo đức và dựa trên lý trí. Xã hội đó dựa trên việc tu thân, hiếu học, trọng hiền tài và các giá trị của thánh nhân trong thời đại hoàng kim ngày xưa, và quan trọng hàng đầu là cung cách lãnh đạo. Trong Luận Ngữ, về thuật trị dân Khổng Tử viết:

Hãy dùng luật lệ để trị dân nhưng nếu chỉ dùng hình phạt không thôi để giữ cho dân không loạn thì họ sẽ lánh xa ta và mất đi lòng tự trọng. Hãy lấy Đức để trị dân, lấy Lễ để duy trì kỷ cương thì dân sẽ biết tự trọng và tự tìm đến ta.

                        
                               Khổng Tử

Điều này cho ta thấy quan điểm của người Hoa về bản chất con người là gì. "Mạnh Tử, sống vào khoảng năm 320 trước Công Nguyên, là một trong các triết gia lớn của Trung Hoa. Tư tưởng của Mạnh Tử đã trở thành một ý thức hệ chính thống. Ông cho rằng con người bản chất vốn thiện, và một chính quyền công minh phải cố làm sao tránh nghèo đói và đừng áp bức dân để họ không mất đi cái bản thiện đó. Lý thuyết thì rất hay nhưng việc đối xử với con dân của chính quyền Trung Hoa qua nhiều thời đại cho thấy họ thường không coi dân chúng là bản thiện và sẵn sàng ra tay đàn áp nếu bị thách thức.". (1)

                     
                                   Mạnh Tử

Tư duy của người Hoa, ít nhất là của giai cấp lãnh đạo, không có tính tôn giáo. Khổng Tử cũng có vẻ không mấy tin vào việc thờ cúng tổ tiên. Nhưng tại sao ông lại khuyến khích chuyện này? "Một đệ tử của Khổng Tử sống vào khoảng năm 300 trước Công Nguyên là Tuân Tử giải thích điều này một cách rõ ràng như vầy: Thờ phụng tổ tiên là cách duy nhất để con người có thể diễn tả tình cảm của mình một cách có tôn ti trật tự. Tổ tiên có linh và nghe được lời ta cầu ngyện hay không không thành vấn đề.". (1)

                           
                                            Tuân Tử

Nhưng có một triết lý khác hoàn toàn cách biệt với Khổng Giáo đó là Đạo Giáo. Đối với những người theo Đạo Giáo thì học theo sách và hành theo lễ như Khổng Giáo là lạc đề."Trong Đạo Đức Kinh Lão Tử dạy ta làm sao đạt được kết quả bằng cách tránh ra mặt càng nhiều càng tốt. Nhưng tựu trung đó là những thủ đoạn ngấm ngầm chi phối và ảnh hưởng các đối tượng để thu lợi. Về thuật cai trị Đạo Đức Kinh đề cao sách lược ngu dân và cô lập cộng đồng. Tức là muốn đất nước yên ổn thì phải giữ sao cho dân thật ngu nhưng bụng họ thật đầy và buộc ai phải ở chỗ nấy theo hộ khẩu và tầng cấp.".(3)

Đạo Đức Kinh ngang như là cẩm nang cho nhiều chính thể độc tài của quá khứ cũng như hiện đại. Nhất là khi Lão Tử răn dạy lãnh đạo như thế này:

Đừng tôn vinh người giỏi để dân không bon chen, đừng trọng của quí báu để dân không trộm cắp, đừng phô ra điều tốt lành để dân không ham muốn. Để cho đất nước yên ổn, đầu dân phải rỗng, bụng dân phải đầy, ý chí phải nhụt nhưng thể lực phải vững. Giữ dân trí cho thấp thì dân không biết gì để đòi hỏi. Khi đa số dân ngu yên phận thì kẻ khôn cũng không dám ngo ngoe. Tránh tất cả những tình huống đòi hỏi hành động, xã tắc tự nhiên sẽ yên.

                         
                                        Lão Tử

Trong Đạo Giáo còn có trường phái của Trang Tử. Đây là phản ứng đối với hệ tư tưởng nặng mùi chính trị của Trung Hoa. Triết lý Trang Tử mang nhiều chất hiện sinh, yếm thế và thụ động. Đó là một thái độ thường thấy khi dân tình đã mỏi mệt vì chiến tranh. Trang Tử chỉ muốn giải thoát cá nhân bằng cách không tham gia chính trị, về với thiên nhiên và chấp nhận cái chết. "Trang Tử ca ngợi tính vô dụng. Trong hòa bình mà vô dụng thì tránh bị sai bảo. Trong chiến tranh mà què quặt thì không phải đi lính. Thành ra càng vô dụng thì càng hưởng thụ cuộc đời. Trong thời Chiến Quốc mà Trang Tử đưa ra một triết lý như vậy thì quả là tuyệt vời.". (3)

                       
                                       Trang Tử

Trong thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên, Trung Hoa vẫn còn loạn lạc. Vào thời đó khi tướng lĩnh lâm trận với hàng vạn binh sĩ thì cái dũng cảm của mỗi cá nhân không quan trọng bằng chiến lược quân sự. Và một chiến lược gia vĩ đại nhất đã xuất hiện vào thời này, đó là: Tôn Tử. Cuốn Binh Thư của ông vẫn còn các tướng lãnh hiện đại học hỏi. Tại sao vậy? "Tôn Tử Binh Thư" tập hợp các kiến thức và triết lý về quân sự của cổ Trung Quốc với lời lẽ ngắn gọn, trong sáng nhất, với lý luận vững chãi nhất và cũng hấp dẫn nhất. Trong đó Tôn Tử cho rằng làm tướng giỏi phải biết cách chiến thắng với phương sách ít đổ máu nhất. Cho nên Tôn Tử nhấn mạnh đến thuật dụng quân, dụ địch và chiến thuật. Trong Binh Thư ông viết.


Sách lược tốt nhất trong chiến tranh là làm sao chinh phục một nước mà không tàn phá tất cả. Tướng giỏi dùng binh để thắng mà không cần phải đánh. Chiếm thành địch mà không cần phải vây. Diệt nước địch mà không cần mất nhiều thời giờ. Cho nên thắng lợi được vẹn toàn mà quân sĩ không mệt mỏi, đó chính là cái phép dụng binh vậy. (1)


                             
                                              Binh Thư Tôn Tử

Nhưng có lẽ tướng giỏi thời Chiến Quốc cũng chẳng có mấy ai cho nên máu đã đổ thành sông, xương đã chất thành núi, và người Trung Quốc đã chán ngán chiến tranh. Vào năm 221 trước Công Nguyên Trung Hoa đã được thống nhất sau khi nước Tần đã thôn tính tất cả các nước đối phương. Một đặc tính của nhà Tần là họ rất giỏi thu thập thông tin." Nhà Tần tìm mọi cách để nắm vững tình hình và kiểm soát hành động của nhân dân cũng như các nguồn tài nguyên. Tỷ như quan chức địa phương phải gửi hồ sơ về thu hoạch mùa màng của mọi cánh đồng trong nước về kinh đô, phải đo vòng bụng của từng con bò để thưởng hoặc phạt người chăn bò.". (3)

Một nhà nước có tai mắt khắp nơi theo định nghĩa là một nhà nước độc tài toàn trị hơn là một nhà nước văn minh. Một trong các trường phái tư tưởng rất có ảnh hưởng tại Trung Hoa cho rằng bản tính con người vốn ác và cần phải được khống chế bằng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc. Và nhà Tần đã đi theo con đường đó. Tuy là một chính thể độc tài khắc nghiệt, ngày nay người ta xem một số chính sách của nhà Tần là chính đáng, chẳng hạn như thống nhất tiền tệ và chữ viết, đặt tiêu chuẩn chính xác cho chiều dài của trục xe, xây dựng những quốc lộ để nối liền các vùng trong nước. Và nhà Tần đã cưỡng bức lao động để xây Vạn Lý Trường Thành ngăn chặn ngoại xâm từ phương bắc. Đã mạnh và có tổ chức như vậy thì tại sao nhà Tần chỉ tồn tại được có 15 năm? "Tần Thủy Hoàng là một ông vua quái ác. Sau khi nhà Hán lên cầm quyền vào thế kỷ thứ Ba trước Công Nguyên dân Trung Hoa mang mặc cảm tội lỗi trong một giai đoạn dài vì họ không biết tại sao một dân tộc văn minh như họ lại có thể dung thứ một ông vua đốt sách chôn học trò như Tần Thủy Hoàng và ám ảnh đó đã dẫn đến một sự tự kiểm.". (5)

                         
                                            Nước Trung Hoa thống nhất dưới triều đại Tần Thủy Hoàng

Nhưng tự kiểm cũng chẳng xóa bỏ được những gì nhà Tần đã lập ra. Nhà Tần với bàn tay sắt nhuốm máu dân đã đặt ra một số cơ sở nền tảng cho một xã hội văn minh. Thành ra nhà Hán tuy xem Khổng Giáo gần như là quốc giáo đã không hoàn toàn nới lỏng các biện pháp kiểm soát dân chúng đã có từ thời nhà Tần. Nhưng dần dần nhà Hán cũng điều chỉnh lại hệ thống công quyền. "Sau nhiều năm cai trị nhà Hán thấy rằng họ không cần kiểm soát chặt chẽ đến như vậy ngày nào mà họ còn chế ngự được tất cả các mầm mống bất phục thì một hệ thống hành chính nhỏ gọn có hiệu quả hơn một hệ thống cồng kềnh.". (3)

Người Hoa có thành ngữ "thiên cao, hoàng đế viễn" tức là trời thì cao còn vua thì xa. Tức là trong cuộc sống thường ngày chỉ có trách nhiệm đối với gia đình và xóm giềng là động lực khiến cho người dân hành xử đúng đắn. Chính vì người Hoa xem trọng xã hội hơn cá nhân, nhà Hán - một nhà nước độc tài toàn trị, đã dễ dàng phát triển những yếu tố chính của văn minh Trung Hoa như ta biết ngày nay. Sự liên tục này đã khiến cho người Hoa hiện đại vẫn tự nhận mình là người Hán. "Nền hành chánh do tầng cấp quan lại điều khiển của nhà Hán đã trở thành truyền thống Trung Hoa. Dưới thời Hán việc thăng quan tiến chức đã bắt đầu dựa vào học vấn và công trạng. Thành ra khoa cử là con đường chính để tiến thân trong xã hội Trung Hoa từ năm 200 trước Công Nguyên suốt cho đến đầu thế kỷ này. Trên nấc thang cao nhất của xã hội Trung Quốc bao gờ cũng là kẻ sĩ, là người biết văn chương thơ phú và tham gia vào xã hội và chính trường. Đó là một con người đa năng đa tài; còn dưới nấc thang chót là binh lính, diễn viên, xướng ca, gái mãi dâm và thương gia, những nghành nghề tuy cần thiết nhưng không được trọng vọng.". (4)

Thành phần sĩ phu người Hoa luôn luôn vận dụng những bài học của quá khứ và điển tích để đề cao đẳng cấp và tinh thần trách nhiệm ngõ hầu bảo đảm ổn định xã hội. Cho nên người Hoa không những chỉ viết ra những trang sử biên niên, họ còn so sánh và phân tích các nguồn tư liệu để tìn cách xác định sự việc.

Ngoài lịch sử sĩ phu cần phải biết hội họa và thư pháp nữa. Bài "Tương Tiến Tửu" của Lý Bạch là một đỉnh cao của thi ca thời Hán:

Biết chăng ai? Sông Hoàng Hà ngọn nước tự lưng trời
Tuôn đến bể khôn vời lại được
Biết chăng nữa đài tương mái tóc bạc
Sớm như tơ mà tối đã như tuyết
Nhân sinh khi đắc ý nên càng
Khôn nỡ để chén vàng trơ với nguyệt
Tài hữu dụng nhẽ trời âu phải quyết
Nghìn vàng kia khi hết lại còn
Lúc vui chơi nào nhắm mùi ngon
Ba trăm chén cũng nên dồn vào một cuộc
Cụ Sầm rủ cụ Đan khuyên chuốt
Rượu nâng lên chớ nỡ dừng tay
Vì người, hát một khúc này
Xin người hãy lắng tai nghe lấy
Tiệc chung cổ ngọc vàng là mấy
Hãy nên say say mãi tỉnh chưa mà

Đó là một đoạn thơ Lý Bạch trích từ bản dịch của Vô Danh như được ghi lại trong bộ Viêt Nam Văn Học Sử Yếu của cụ Dương Quảng Hàm. Nhưng đối với người nước ngoài thời đó cái hấp dẫn chính của văn minh Trung Quốc không phải là thi ca, hội họa mà là các vật phẩm như là luạ, ngọc và đặc biệt là đồ sứ. Người Hoa đã sáng chế ra đồ sứ và đồ sứ đã trở thành một công nghệ lớn ở Trung Hoa. "Nghề sứ đòi hỏi các nguyên liệu đặc biệt và tất cả cần phải được chế biến, tức là cần phải có hàng trăm công nhân để tạo ra đủ vật liệu thành ra người Hoa đã tổ chức các ngành tiểu công nghệ và sử dụng một số nhân công lớn, thành phần này được xếp loại và phân công cụ thể."

                       
                                           Gốm sứ đời nhà Thanh

Có thể nói đồ sứ đã thúc đẩy Trung Hoa công nghiệp hóa và quá trình đó đã ảnh hưởng đến di sản văn minh của họ. "Người Hoa không bỏ nhiều công sức để xây dựng những kiến trúc lớn bằng đá như những nền văn minh khác. Thay vào đó họ dồn tài nguyên vào việc tổ chức các công nghiệp sản xuất sứ, ngọc và lụa. Ngay từ thời Tân Thạch Khí đồ sứ và hàng lụa của Trung  Hoa đã đạt được phẩm chất cao. Người Hoa trân trọng những vật phẩm đó hơn là những công trình đồ sộ.".(2)

Nhưng dù kỷ năng của giới nghệ nhân có cao đến mấy, địa vị của họ vẫn thấp hơn giới sĩ phu. Đối với kẻ sĩ, ngoài cầm, kỳ, thi, họa, họ còn phải hiểu biết về vạn vật thiên nhiên, cũng như những lời dạy bảo của thánh nhân. Người Trung Hoa chịu ảnh hưởng của nhiều luồng tư tưởng. Cách sống của sĩ phu cũng rất uyển chuyển, tức là họ có thể làm việc theo Nho Giáo, tiêu khiển theo Đạo Giáo và cúng tế theo Phật Giáo. Chính nhờ có đa nguyên về tư duy như vậy mà xã hội Trung Hoa đã sinh ra nhiều sáng kiến. Người Hoa phát minh ra thuốc súng và xe cút kít, hai thứ rất quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở. Và có lẽ cũng không phải do ngẫu nhiên mà một dân tộc coi trọng chữ viết đến như vậy đã phát minh ra giấy và kỷ thuật in ấn, nhờ đó mà tiềm năng to lớn của chữ viết đã được phát huy. "Thật khó mà xác định được khởi điểm của nghề in nhưng chắc chắn là vào khoảng năm 1000 sau Công Nguyên thì nghề in đã trưởng thành. Lúc đó những cuốn sách quí với những minh họa đẹp đẽ tinh vi đã xuất hiện. Nhà nước ra lệnh in toàn bộ kinh điển Nho Giáo mà lúc bấy giờ đã trở thành ý thức hệ chính thống. Giáo hội Phật Giáo cũng cho in toàn bộ các kinh Phật và chẳng bao lâu các tôn giáo khác cũng noi theo. Đây là sự bùng nổ về thông tin đầu tiên. một cuộc cách mạng mà tác động có lẽ còn quan trọng hơn sự bùng nổ thông tin điện tử ngày nay.". (1)

                        
                         Một trong những bản in khc gỗ sớm nhất tại Trung Hoa cổ

Những thành tựu này sở dĩ có được là nhờ tài nguyên Trung Hoa khá dồi dào và có một nền nông nghiệp bền vững dựa trên lúa gạo. Trong khi cả thế gới tương đối còn lạc hậu thì Trung Hoa đã phồn vinh và văn minh đủ để phát triển những đô thị lớn khiến cho khách nước ngoài kinh ngạc. Bắt đầu từ thế kỷ 12 sau Công Nguyên, tại Trung Hoa tương quan giữa thương mại và văn minh đã được đặt ra. Nay đó là một chủ đề khá thời thượng. "Đô thị Trung Hoa thời xưa đã trở nên rất giống một thành phố thương mại hiện đại, trong đó mọi dịch vụ đều được thị trường cung ứng. Chẳng hạn như nhà ăn, vốn là một phát minh của người Hoa, là nơi phục vụ ăn uống với mục tiêu hưởng lạc chứ không như trong nền văn minh khác nơi lữ quán và quán rượu chỉ để tiếp khách lỡ đường hay chỉ để tìm say mà thôi. Người Hoa cũng bày ra nhà hát để ca múa, nhà thuyết minh để kể chuyện và cả nhà thổ nữa. Gần như hầu hết mọi thứ kể cả đất đai đều được mua bán như một sản phẩm. Giới con buôn tuy không được trọng vọng và không có quyền lực chính trị thì cũng dần dần nhận thức được quyền lực kinh tế.". (3) Và đó chính là quyền lực mà ngày nay người Hoa luôn luôn vận dụng ở bất cứ nơi nào họ đến định cư.

                      
                                       Tờ báo đầu tiên của thế giới xuất hiện tại Bắc Kinh năm 713, AD

Văn minh Trung Hoa không lâu đời nhất nhưng đã tồn tại liên tục nhất. Từ thời cổ đại cho đến nay. Cho đến đầu thế kỷ thứ 19 Trung Hoa vẫn được xem là một xã hội vững mạnh nhất thế giới. Tuy có lúc bị phân hóa Trung Hoa bao giờ cũng được thống nhất trở lại. Qua nhiều thế kỷ Trung Hoa thường có một chính quyền hùng mạnh, không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì thử thách quyền lực của mình. Cho dù văn minh Trung Hoa đương đại đang thử nghiệm các hệ tư tưởng mới, nền tảng bên dưới vẫn là truyền thống Nho Giáo, xem trọng ổn định và thiện lương. Ngày nay sự liên tục đó vẫn còn, Trung Hoa vẫn xem ổn định là lý tưởng cần phải đạt được với mọi giá. Và lãnh đạo Trung Hoa vẫn định nghĩa tính thiện lương cho con dân là những gì giúp họ duy trì ổn định và hệ thống quyền lực.

Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Giáo Sư Christopher Collin - Đại Học Luân Đôn
(2) Jessica Rosen - Chuyên gia Trung QUốc Học
(3) Bill Jeanner - Đại Học New South Wales, Úc Châu
(4) Max Louis
(5) Brian Holdten
(hình minh họa nguồn: wiki)