"Phần trọng yếu của Kỷ Nguyên Khai Sáng là làm sao để thiết lập được cái gọi là một "chính phủ hợp thức". Chữ "hợp thức" ở đây không chỉ có nghĩa là một chính phủ được một thể chế chính trị nào đó chấp nhận mà còn hàm ý là phải tạo dựng nên một cơ chế cho phép ta thay đổi luôn thể chế chính trị đó; tức là, có thể thay đổi chế độ một cách có trật tự. Trong Kỷ Nguyên Khai Sáng khái niệm cho rằng chính phủ hợp thức là chìa khóa của tự do đã đóng vai trò tuyệt đối then chốt.". (1)

Nghị Viện Anh
Nghĩa thông thường của Khai Sáng là xóa tan u tối, đem kiến thức thay thế sự ngu dốt. Khi nói về Châu Âu Kỷ Nguyên Khai Sáng thế kỷ thứ 18 là nói về giai đoạn chứng kiến nhiều phát triển về tri thức và văn hóa.
Biểu tượng Khoa Học
Trong bài hôm nay phần lớn thì giờ sẽ nói về các nước Âu Mỹ, để xem họ phát huy lý trí, kiến thức khoa học và gây dựng một thái độ bao dung như thế nào. Và trên hết là sự phát triển của khái niệm Tự Do. Như học giả Philipson nhận định, khái niệm tự do tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử. "Chúng ta thấy có hai thái độ khác nhau về Tự Do. Thời xưa nước Pháp vốn không có Hiến Pháp. Thể chế của Pháp vốn không có tính bao dung về tôn giáo, thành ra người Pháp đã không có truyền thống tự do tín ngưỡng. Trong khi đó dân Anh vào năm 1688, vì bất mãn với những áp đặt về tôn giáo của triều đình theo Thiên Chúa Giáo La Mã đã dấy lên phế truất vua James II trong một cuộc cách mạng không đổ máu. Và biến cố này được người ta gọi là "Cuộc Cách Mạng Huy Hoàng" đã đưa đến việc giới hạn vương quyền, lập nên một Quốc Hội tự do, và một thể chế chính trị bao dung được pháp luật bảo đảm. Thành ra có vẻ như là truyền thống tự do của người Anh đã lan truyền sang xứ Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ. Và cũng vì thế tại nước Anh cũng như một số nước khác thuộc nòi Anglo-Saxons thì thời Khai Sáng có vẻ như là một giai đoạn với nhiều nỗ lực nhằm bảo vệ và hoàn thiện những quyền tự do kiếm được vào năm 1688. Trong khi đó thì tại lục địa Châu Âu và đặc biệt là tại Pháp vấn đề trước hết là làm sao tạo ra được một hệ thống gồm các quyền tự do đó.". (1)
Như vậy truyền thống tự do của dân Anh đã phát nguồn từ cuối thế kỷ thứ 17, và đó cũng là lúc hai nhà tư tưởng vĩ đại người Anh đã gieo rắc những hạt giống trí tuệ của thời Khai Sáng. Một trong hai người đó là nhà triết học chính trị John Locke. "Về chính trị thì Locke cho rằng mọi chính quyền đều được dựng lên trên căn bản một khế ước giữa họ và nhân dân. Cho nên trong một chừng mực nào đó thì ngay cả nhà vua cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhưng thế nào là chịu trách nhiệm? Đó là một câu hỏi đã gây rất nhiều tranh cãi sôi nổi. Một số người cho rằng Locke muốn nói nếu dân không thích vua thì dân có quyền phế truất vua, nhưng những người khác thì lại diễn giải rằng dân cũng phải chịu trách nhiệm đối với vua vì dân cần có vua. Ngay cả khái niệm về ai là dân cũng được tranh cãi kịch liệt.
Dân có phải chỉ là những người có tài sản, có đóng thuế, hay dân là tất cả mọi người?
Thành ra trong Kỷ Nguyên Khai Sáng thì tư tưởng của Locke đã trở thành những đề tài rất phong phú để tranh luận trên khắp Châu Âu. Nhưng quan trọng hơn cả là tác gia này đã chứng minh rằng một đất nước muốn có tự do thì phải có một thể chế biết bao dung về tôn giáo.". (1)
Vĩ nhân cùng thời với John Locke là khoa học gia Isaac Newton.
"...Thuở vạn vật còn bao huyền bí
Luật tự nhiên chìm đắm âm u
"Hãy sinh ra Newton", Chúa phán
Và lý trí tỏa sáng chan hòa..."
Isaac Newton (1643-1727)
Những câu thơ ca tụng Newton như thánh sống này là của nhà thơ Alexander Pope sống vào thế kỷ thứ 18. Nhưng suy cho cùng thì chúng cũng chẳng phóng đại bao nhiêu tầm quan trọng của Newton đối với thời Khai Sáng. "Newton đưa ra một quan điểm khoa học mới là thiên nhiên tuân thủ một số định luật, và con người có đủ trí khôn để thông hiểu cái hậu quả của các định luật đó và áp dụng chúng trong đời sống thường ngày. Nhờ quan điểm này mà Kỷ Nguyên Khai Sáng đã đạt đựoc nhiều tiến bộ về khoa học và kỷ thuật. Thực sự thì Newton đã đặt nền móng cho toàn bộ nền khoa học hiện nay, và thành quả chính của ông là hai định luật về chuyển động và trọng lực. Để giải thích sự vận chuyển và hấp lực giữa các vật thể ông còn đặt ra cơ sở cho Quang Học và trong Toán Học thì ông đã sáng tạo ra Vi Tích, tức là Calculus. Newton là cha đẻ của toàn môn toán Vi Tích, từ quan niệm đến kỷ thuật.". (2)
Nhưng đóng góp quan trọng nhất của Newton mà đã trở thành một nguồn cảm hứng của các thế hệ theo sau chính là phương pháp khoa học mà ông đã khai phá. "Newton dường như có khả năng thiên phú giúp cho ông nhận ra tâm điểm của vấn đề. Newton hẳn đã xem xét tất cả các kết quả thử nghiệm của những người đi trước, rồi ông phán đoán xem cái nào là đáng quan tâm, rồi từ đó ông có thể trích ra một hay hai dữ liệu then chốt, phối kiểm chúng lại để đưa ra một cách giải thích sâu sắc về ý nghĩa của chúng. Một thí dụ điển hình là luật về trọng lực. Vào thới đó người ta đã mô tả quĩ đạo các hành tinh, tức là những chuyện trên trời; rồi đến những chuyện dưới đất như là mọi vật đều rơi xuống nếu không có gì nắm giữ. Đó là điều không làm cho mấy ai thắc mắc, nhưng thiên tài của Newton là kết nói hai sự kiện đó, tưởng chừng như hoàn toàn biệt lập với nhau, để rồi đưa ra một định luật chung, đó là: định luật về trọng lực. Không những ông chỉ giải thích về trọng lực, Newton còn tìm ra cách vận dụng định luật đó để tìm hiểu mọi vấn đề.". (2)
Trong thế kỷ thứ 18 Newton và Locke đã có ảnh hưởng sâu đậm tại Pháp. Tại nước Pháp như là một tâm điểm, Kỷ Nguyên Khai Sáng đã lan tỏa ra khắp Châu Âu. Phần lớn là do tư tưởng của Voltaire, đại văn hào có tính trào lộng của Pháp, cùng những nhà thức giả có công trong việc soạn thảo bộ Tự Điển Bách Khoa. Đây là một bộ sách khổng lồ gồm 17 tập đầy chữ, cộng thêm 11 tập đầy minh họa nữa. Mục đích của Bộ Bách Khoa này không những chỉ để thông tin mà còn để phổ biến những tư tưởng mới. "Nói một cách tổng quát thì những tư tưởng mới này có mục đích tổ chức cuộc sống một cách hợp lý hơn trên trái đất chứ không quan tâm gì đến những giá trị cũ như danh dự của giới quý tộc, hay trên hết là những giá trị tôn giáo mà vốn chú trọng vào việc cứu rỗi linh hồn của từng cá nhân. Bộ Từ Điển Bách Khoa chỉ quan tâm đến việc phát triển thế giới thành một môi trường sống tốt lành hơn mà thôi.". (3)
Kỷ Nguyên Khai Sáng quan tâm đến thế giới hiện tại hơn là thế giới bên kia phần lớn cũng là do vũ trụ quan của Newton. Trong kỷ nguyên của lý trí này vai trò của Thượng Đế dần dà bị lu mờ. "Trước Kỷ Nguyên Khai Sáng người ta cho rằng Thượng Đế đã tạo ra vũ trụ như một bài toán đố cho nhân loại.
Và bổn phận con người là gì?
Là tìm hiểu và giải bài toán đó. Nhưng trong vòng vài trăm năm sau thì khám phá của Newton đã thay đổi rất nhiều toàn bộ quan điểm đó. Những định luật do Newton đưa ra đã khiến người ta bắt đầu suy nghĩ về vũ trụ như là một bộ máy. Vai trò sáng thế của Thượng Đế dần dần bị gạt ra bên lề, và Kỷ Nguyên Khai Sáng dần dần đi đến quan điểm là con người cần phải hiểu bản chất của thiên nhiên bằng cách tìm ra những định luật chi phối nó chứ không cần phải tin vào một bàn tay điều hành của một đấng thiêng liêng nào cả.". (2)
Tô Cách Lan, dù là một xứ nhỏ bé, đã đóng góp rất nhiều trong Kỷ Nguyên Khai Sáng với nhiều nhân tài. Chẳng hạn như người sáng lập ra Kinh Tế Học, ông Adam Smith, nhà thơ Robert Burns, người tạo ra nền móng của Hóa Học hiện đại Joseph Black, và nhà triết hoc David Hume mà sau Newton là người có nhiều ảnh hưởng đến khuynh hướng từ bỏ vũ trụ quan của tôn giáo. Những phân tích của Hume vế cách suy nghĩ của con người để đi đến tư tưởng và ý niệm đã khiến cho người ta ngày càng trở nên hoài nghi hơn về tôn giáo. Và đó là một triết lý trọng yếu của thời Khai Sáng tại Tô Cách Lan. Chính vì thế mà vào năm 1761 Giáo Hội Công Giáo La Mã đã liệt kế tất cả những tác phẩm triết lý của Hume vào thư mục cấm giáo dân đọc.
David Hume (1711-1776)
Trong khi đó tại Pháp, trong giới thức giả tiến bộ cũng chẳng có mấy ai tin là Thượng Đế can thiệp vào đời sống trần thế của con người, dù hầu hết đã chấp nhận sự hiện hữu của một đấng tối cao. Mối quan tâm chung của họ là Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã tại Pháp thời bấy giờ đã có thể khống chế mọi chuyện vì họ có quá nhiều quyền lực. "Trong Kỷ Nguyên Khai Sáng tại Pháp thì việc chống giáo hội có lẽ quan trọng hơn là chống tôn giáo. Bên trong nước Pháp thời đó Giáo Hội Thiên Chúa La Mã có độc quyền về hành lễ và truyền đạo. Cho đến cuối thế kỷ thứ 18, người theo đạo Tin Lành, nhất là những mục sư, có thể bị tử hình. Nhưng quan trọng hơn là giáo hội Công Giáo chiếm độc quyền về giáo dục. Thành phần người Pháp cấp tiến cho rằng sự độc quyền này cản trở những tư tưởng tiến bộ của khoa học mới. Nên biết các trường học của giáo hội Công Giáo thời đó đã bác bỏ tư tưởng của Descartes trong một thời gian dài, rồi mãi về sau khi họ chấp nhận chúng thì tư tưởng mới của Newton đã khiến cho Descartes trở nên lỗi thời, và từ đó giáo hội Công Giáo quay sang chống Newton.". (3)
Ngoài Newton và Locke, nước Anh vào giữa thế kỷ thứ 18 còn được Châu Âu của Kỷ Nguyên Khai Sáng khâm phục về tính bao dung. "Vào cuối thế kỷ thứ 17 nước Pháp đã đặt đạo Tin Lành ra ngoài vòng pháp luật và nhiều người Tin Lành đã phải trốn qua các nơi khác tại Châu Âu. Trong số những nước đó, nước Anh được coi là nước bao dung nhất về tôn giáo. Tính bao dung này khiến cho những người đến tỵ nạn tôn giáo ở Anh trở nên thành phần hữu dụng nhất của xã hội, và đã đóng góp không nhỏ vào những tiến bộ của nước Anh. Thứ đến là trong khi Châu Âu còn sống với những chính thể quân chủ chuyên chế thì Anh Quốc đã dựa vào ý nguyện của dân chúng để thiết lập những cơ chế nhằm tiết giảm quyền lực của chính phủ và vương triều. Dĩ nhiên nước Anh thời đó chưa phải là một xã hội lý tưởng, nhưng chắc chắn Anh Quốc đã làm cho Châu Âu thấy những gì có thể làm được về mặt tôn giáo và chính trị.". (3)
Ngoài Newton và Locke, nước Anh vào giữa thế kỷ thứ 18 còn được Châu Âu của Kỷ Nguyên Khai Sáng khâm phục về tính bao dung. "Vào cuối thế kỷ thứ 17 nước Pháp đã đặt đạo Tin Lành ra ngoài vòng pháp luật và nhiều người Tin Lành đã phải trốn qua các nơi khác tại Châu Âu. Trong số những nước đó, nước Anh được coi là nước bao dung nhất về tôn giáo. Tính bao dung này khiến cho những người đến tỵ nạn tôn giáo ở Anh trở nên thành phần hữu dụng nhất của xã hội, và đã đóng góp không nhỏ vào những tiến bộ của nước Anh. Thứ đến là trong khi Châu Âu còn sống với những chính thể quân chủ chuyên chế thì Anh Quốc đã dựa vào ý nguyện của dân chúng để thiết lập những cơ chế nhằm tiết giảm quyền lực của chính phủ và vương triều. Dĩ nhiên nước Anh thời đó chưa phải là một xã hội lý tưởng, nhưng chắc chắn Anh Quốc đã làm cho Châu Âu thấy những gì có thể làm được về mặt tôn giáo và chính trị.". (3)
Vào cuối thế kỷ thứ 18 người Anh nhận thấy việc phân chia quyền lực giữa vương triều và quốc hội cũng không giải quyết được tất cả vấn đề. Rốt cuộc Kỷ Nguyên Khai Sáng chỉ đem lại lợi lộc cho thành phần ăn trên ngồi trốc khắp nơi. Giới thức giả cấp tiến bấy giờ lo ngại rằng tính dã man là trạng thái tự nhiên của nhân loại; tức là, văn minh có thể suy thoái; và hấu hết chấp nhận giới hạn của sự Khai Sáng. Họ cho rằng tính văn minh không thể nào đến với đại đa số quần chúng. Sự phân cách về văn hóa giữa thiểu số trí thức và quần chúng vẫn tồn tại, nhưng với nền kinh tế ngày càng trở nên phồn thịnh hơn thì các giá trị văn hóa của giới tiểu tư sản ngày càng trở nên phổ biến hơn. Chẳng hạn như âm nhạc, nó không còn là thú tiêu khiển riêng của thành phần quí tộc trưởng giả mà bất cứ ai có tiền mua vé cũng có thể thưởng thức được những buổi trình tấu của các nhạc sĩ trứ danh như Haydn.
Một trong những tác phẩm vĩ đại mà Tô Cách Lan đã đóng góp cho Kỷ Nguyên Khai Sáng là "The Wealth Of Nation", tạm dịch là "Tài Sản Quốc Gia" ra đời vào năm 1776, do kinh tế gia Adam Smith viết. "Smith hoàn toàn tin tưởng vào quan niệm rằng mọi quan hệ giữa người với người đều là những hình thức trao đổi, từ tình cảm cho đến ý kiến, cho đến dịch vụ và hàng hoá. Ông nghĩ rằng con người thực hiện tốt nhất tính sáng tạo, vị tha, và xã giao khi họ trao đổi với nhau. Và từ đó thì ông Smith phân tích tại sao một đất nước trở nên giàu có khi công dân được tự do trao đổi với nhau, tức là tự do phát huy tiềm năng mà không còn chính phủ hay lịch sử kiềm tỏa.". (1)
Trong cùng năm 1776, một văn bản khác đã được công bố và đem lại nhiều hậu quả quan trọng hơn nhiều, đó là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Những người Mỹ nổi dậy chống lại hoàng triều Anh để dành độc lập cho thuộc địa Hoa Kỳ cũng đã thấm nhuần những tư tưởng của thời Khai Sáng, như triết lý của John Locke. "Đối với họ thu hút nhất là khái niệm của Locke về những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm. Đó là những quyền bẩm sinh của mỗi cá nhân, rồi đến ý niệm về khế ước mà qua đó công dân có thể nhượng một số quyền tự do bẩm sinh của họ để ủy thác cho một chính quyền việc bảo vệ những quyền tự do cho nhân dân cả nước. Khái niệm về khế ước cũng công nhận quyền làm cách mạng để lật đổ một chính quyền vi phạm khế ước với nhân dân. Rất rõ ràng, tư tưởng của Locke là ảnh hưởng chính của Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ.". (4)

John Locke (1632 - 1704)
"Chúng tôi coi những chân lý sau đây là hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng với nhau, đều có những quyền bất khả xâm phạm. Trong số những quyền đó là quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng chính quyền được nhân dân thành lập và được ban cho quyền lực chính đáng từ sự đồng thuận của nhân dân để bảo vệ những quyền tự do đó. Rằng khi một chính quyền, bất kỳ dưới hình thức nào phản lại mục tiêu đó, thì nhân dân có quyền thay đổi và hủy bỏ nó và thành lập một chính quyền mới..."
Quí vị chắc cũng nhận ra ngôn từ quen thuộc trong Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, bỡi vì 169 năm sau đó chủ tịch Hồ Chí Minh đã mượn những dòng chữ này khi nhắc lại câu đầu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam.
13 năm sau khi Hoa Kỳ độc lập, khẩu hiệu cách mạng: "Tự Do, Bình Đẳng, Hữu Nghị" đã vang dậy trên đường phố Paris, khi cuộc cách mạng Pháp nổ ra vào năm 1789. Những nhà cách mạng Pháp dấy lên lật đổ triều đại phong kiến đều là những con người của Kỷ Nguyên Khai Sáng.
Thế thì họ muốn gì?
"Với cuộc cách mạng họ mong là họ có thể tự do phát huy được những tiềm năng vốn bị những gông cùm chuyên chế làm thui chột. Trong cuộc cách mạng năm 1789, quan trọng nhất là khái niệm cho rằng nếu mỗi cá nhân được tự do mưu sinh bằng cách tận dụng tiềm năng của mình thì cả xã hội sẽ hưởng lợi. Nhưng khi cách mạng trưởng thành thì một khái niệm khác về tư do bắt đầu phát triển. Người ta nhận thấy rằng nếu ta tạo ra một hệ thống trọng dụng tài năng thì những người mạnh, người giàu, người giỏi, người may mắn hơn sẽ dần dần chiếm ưu thế trong xã hội. Và quả thật trong một tình huống như vậy, người ta đã chứng kiến một nghịch lý, đó là, một cuộc cách mạng đã được thực hiện vì tự do đã dẫn đến suy thoái về vị thế cũng như về vật chất của nhiều người. Và điều đó đã khiến cho ngày càng có nhiều người lên tiếng cổ động cho một ý niệm về tư do khác. Đó là tư do hạ thấp mọi tầng cấp trong xã hội đến mức ngang với nhau như là một bước đầu của cách mạng.". (5)
Quốc Hội Pháp vào năm 1789 đã công bố một bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền độc đáo, khác hẳn với Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. "Người Pháp cách mạng gọi đó là Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền chứ không phải là Tuyên Ngôn dành riêng cho dân Pháp mà thôi. Chính cái tính phổ quát đó và hoài vọng xây dựng một xã hội mới trên đống tro tàn của mọi cái cũ là điều có ý ngĩa nhất trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Nhân Quyền. Đó vừa là một hấp lực mạnh mẽ lại vừa là một lý tưởng mong manh, khó có cơ trở thành hiện thực.". (5)
Quốc Hội Pháp vào năm 1789 đã công bố một bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền độc đáo, khác hẳn với Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. "Người Pháp cách mạng gọi đó là Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền chứ không phải là Tuyên Ngôn dành riêng cho dân Pháp mà thôi. Chính cái tính phổ quát đó và hoài vọng xây dựng một xã hội mới trên đống tro tàn của mọi cái cũ là điều có ý ngĩa nhất trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Nhân Quyền. Đó vừa là một hấp lực mạnh mẽ lại vừa là một lý tưởng mong manh, khó có cơ trở thành hiện thực.". (5)
Chỉ trong vòng vài năm, cách mạng Pháp đã đưa dân tộc này vào cảnh đầu rơi máu đổ. Thay vì tiết giảm quyền lực của nhà vua như là nước Anh đã làm, người Pháp cách mạng đã chặt đầu nhà vua và tuyên bố một nước Cộng Hòa Pháp. Rồi bất cứ ai làm phật lòng giới lãnh đạo cách mạng thống trị thì đều bị đưa lên đoạn đầu đài. Một chế độ chuyên chế nhân danh tông tộc đã được thay thế bằng một chế độ độc tài nhân danh tự do. Thế là Kỷ Nguyên Khai Sáng đã kết thúc với những cảnh tượng dã man kinh hoàng, khi lòng bao dung và lý trí bị bỏ quên. Cách mạng Pháp cho ta thấy một nguy cơ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. "Cách mạng Pháp chứng minh rằng một nhà nước hiện đại có rất nhiều quyền lực. Nhà nước cách mạng Pháp đã có thể tác oai tác quái, không những đối với dân chúng của họ mà còn đối với tất cả người Âu. Sở dĩ nhà nước cách mạng Pháp chiếm được quyền lực vô biên là nhờ họ đã gộp lại với nhau ba ý niệm lớn của chính trị hiện đại. Đó là: Nhà Nước, Quốc Gia, và Dân Tộc.". (5)
Một trong những tác phẩm vĩ đại mà Tô Cách Lan đã đóng góp cho Kỷ Nguyên Khai Sáng là "The Wealth Of Nation", tạm dịch là "Tài Sản Quốc Gia" ra đời vào năm 1776, do kinh tế gia Adam Smith viết. "Smith hoàn toàn tin tưởng vào quan niệm rằng mọi quan hệ giữa người với người đều là những hình thức trao đổi, từ tình cảm cho đến ý kiến, cho đến dịch vụ và hàng hoá. Ông nghĩ rằng con người thực hiện tốt nhất tính sáng tạo, vị tha, và xã giao khi họ trao đổi với nhau. Và từ đó thì ông Smith phân tích tại sao một đất nước trở nên giàu có khi công dân được tự do trao đổi với nhau, tức là tự do phát huy tiềm năng mà không còn chính phủ hay lịch sử kiềm tỏa.". (1)
Trong cùng năm 1776, một văn bản khác đã được công bố và đem lại nhiều hậu quả quan trọng hơn nhiều, đó là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Những người Mỹ nổi dậy chống lại hoàng triều Anh để dành độc lập cho thuộc địa Hoa Kỳ cũng đã thấm nhuần những tư tưởng của thời Khai Sáng, như triết lý của John Locke. "Đối với họ thu hút nhất là khái niệm của Locke về những quyền tự nhiên bất khả xâm phạm. Đó là những quyền bẩm sinh của mỗi cá nhân, rồi đến ý niệm về khế ước mà qua đó công dân có thể nhượng một số quyền tự do bẩm sinh của họ để ủy thác cho một chính quyền việc bảo vệ những quyền tự do cho nhân dân cả nước. Khái niệm về khế ước cũng công nhận quyền làm cách mạng để lật đổ một chính quyền vi phạm khế ước với nhân dân. Rất rõ ràng, tư tưởng của Locke là ảnh hưởng chính của Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ.". (4)

John Locke (1632 - 1704)
"Chúng tôi coi những chân lý sau đây là hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng với nhau, đều có những quyền bất khả xâm phạm. Trong số những quyền đó là quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng chính quyền được nhân dân thành lập và được ban cho quyền lực chính đáng từ sự đồng thuận của nhân dân để bảo vệ những quyền tự do đó. Rằng khi một chính quyền, bất kỳ dưới hình thức nào phản lại mục tiêu đó, thì nhân dân có quyền thay đổi và hủy bỏ nó và thành lập một chính quyền mới..."
Quí vị chắc cũng nhận ra ngôn từ quen thuộc trong Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, bỡi vì 169 năm sau đó chủ tịch Hồ Chí Minh đã mượn những dòng chữ này khi nhắc lại câu đầu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam.
13 năm sau khi Hoa Kỳ độc lập, khẩu hiệu cách mạng: "Tự Do, Bình Đẳng, Hữu Nghị" đã vang dậy trên đường phố Paris, khi cuộc cách mạng Pháp nổ ra vào năm 1789. Những nhà cách mạng Pháp dấy lên lật đổ triều đại phong kiến đều là những con người của Kỷ Nguyên Khai Sáng.
Thế thì họ muốn gì?
"Với cuộc cách mạng họ mong là họ có thể tự do phát huy được những tiềm năng vốn bị những gông cùm chuyên chế làm thui chột. Trong cuộc cách mạng năm 1789, quan trọng nhất là khái niệm cho rằng nếu mỗi cá nhân được tự do mưu sinh bằng cách tận dụng tiềm năng của mình thì cả xã hội sẽ hưởng lợi. Nhưng khi cách mạng trưởng thành thì một khái niệm khác về tư do bắt đầu phát triển. Người ta nhận thấy rằng nếu ta tạo ra một hệ thống trọng dụng tài năng thì những người mạnh, người giàu, người giỏi, người may mắn hơn sẽ dần dần chiếm ưu thế trong xã hội. Và quả thật trong một tình huống như vậy, người ta đã chứng kiến một nghịch lý, đó là, một cuộc cách mạng đã được thực hiện vì tự do đã dẫn đến suy thoái về vị thế cũng như về vật chất của nhiều người. Và điều đó đã khiến cho ngày càng có nhiều người lên tiếng cổ động cho một ý niệm về tư do khác. Đó là tư do hạ thấp mọi tầng cấp trong xã hội đến mức ngang với nhau như là một bước đầu của cách mạng.". (5)
Quốc Hội Pháp vào năm 1789 đã công bố một bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền độc đáo, khác hẳn với Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. "Người Pháp cách mạng gọi đó là Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền chứ không phải là Tuyên Ngôn dành riêng cho dân Pháp mà thôi. Chính cái tính phổ quát đó và hoài vọng xây dựng một xã hội mới trên đống tro tàn của mọi cái cũ là điều có ý ngĩa nhất trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Nhân Quyền. Đó vừa là một hấp lực mạnh mẽ lại vừa là một lý tưởng mong manh, khó có cơ trở thành hiện thực.". (5)
Quốc Hội Pháp vào năm 1789 đã công bố một bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền độc đáo, khác hẳn với Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. "Người Pháp cách mạng gọi đó là Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền chứ không phải là Tuyên Ngôn dành riêng cho dân Pháp mà thôi. Chính cái tính phổ quát đó và hoài vọng xây dựng một xã hội mới trên đống tro tàn của mọi cái cũ là điều có ý ngĩa nhất trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Nhân Quyền. Đó vừa là một hấp lực mạnh mẽ lại vừa là một lý tưởng mong manh, khó có cơ trở thành hiện thực.". (5)
Chỉ trong vòng vài năm, cách mạng Pháp đã đưa dân tộc này vào cảnh đầu rơi máu đổ. Thay vì tiết giảm quyền lực của nhà vua như là nước Anh đã làm, người Pháp cách mạng đã chặt đầu nhà vua và tuyên bố một nước Cộng Hòa Pháp. Rồi bất cứ ai làm phật lòng giới lãnh đạo cách mạng thống trị thì đều bị đưa lên đoạn đầu đài. Một chế độ chuyên chế nhân danh tông tộc đã được thay thế bằng một chế độ độc tài nhân danh tự do. Thế là Kỷ Nguyên Khai Sáng đã kết thúc với những cảnh tượng dã man kinh hoàng, khi lòng bao dung và lý trí bị bỏ quên. Cách mạng Pháp cho ta thấy một nguy cơ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. "Cách mạng Pháp chứng minh rằng một nhà nước hiện đại có rất nhiều quyền lực. Nhà nước cách mạng Pháp đã có thể tác oai tác quái, không những đối với dân chúng của họ mà còn đối với tất cả người Âu. Sở dĩ nhà nước cách mạng Pháp chiếm được quyền lực vô biên là nhờ họ đã gộp lại với nhau ba ý niệm lớn của chính trị hiện đại. Đó là: Nhà Nước, Quốc Gia, và Dân Tộc.". (5)
Nhưng đồng thời cách mạng Pháp cũng đã đóng góp nhiều tư tưởng lớn cho sự phát triển khái niệm về tự do và dân chủ. "Thứ nhất, cuộc cách mạng Pháp cho thấy một dân tộc có thể nổi lên đạp đổ một chế độ áp bức mà không cần một thế lực nào từ bên ngoài trợ giúp. Thứ hai, tâm điểm của cuộc cách mạng và của một nền văn hóa chính trị là sự tham gia vào chính sự của toàn dân. Trong Kỷ Nguyên Khai Sáng, tại Pháp có nhiều người tham gia vào chính trị hơn bất cứ nơi nào và bất cứ thời đại nào trong lịch sử Châu Âu. Những nhà cách mạng Pháp xem việc tham gia của quần chúng vào chính sự là một yếu tố cần thiết để một chính quyền có đầy đủ tư cách chính trị để lãnh đạo. Các chế độ của Pháp sau năm 1789 không hẳn đã đạt được lý tưởng dân chủ, tự do, nhưng ít nhất họ đã nêu cao một yếu tố cần thiết để một chính quyền có thể có tư cách chính đáng để lãnh đạo. Đó là sự tự do tham gia của quần chúng trong lãnh vực chính trị.". (5)
Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Học giả Nick Philipson - Đại học Edinburgh
(2) Học giả Ian Stewart - Đại học Warwick
(3) Giáo sư Peter Frank - Đại học Edinburgh
(4) Học giả Micheal Falley - Đai học Wale
(5) Tim Blanning - Đại học Cambridge
(Hình minh họa nguồn internet)


