"Dân La Mã là dân tộc giỏi nhất trong thế giới cổ đại. Họ đã tạo dựng ra được một bộ máy quân sự bách chiến bách thắng. Đối với người La Mã chiến thắng là trên hết và chiến đấu là đức tính cần thiết nhất, và quả thật trong các sách vở tiếng Latin, để mô tả khả năng chiến đấu người La Mã thường chỉ dùng hai chữ "Đức Tính".". (1)

Khải Hoàn Môn Titus (được xây vào năm 81 AD)
Trong thời hoàng kim của họ người La Mã đã cai trị hầu hết thế giới mà họ biết đến vào thời đó. Lãnh thổ của họ đã có lúc trải dài từ miền bắc nước Anh tới sa mạc Sahara, từ Tây Ban Nha cho tới Iraq. Hầu hết những cuộc chinh phục của họ đã được thực hiện khi La Mã còn là một nước Cộng Hòa. Mãi cho đến những năm đầu của Công Nguyên thì thể chế Cộng Hòa mới cáo chung khi Augustus trở thành hoàng đế đầu tiên của La Mã. Nhưng trước đó sáu thế kỷ thành phố La Mã vẫn còn là một thị tứ hèn kém. "Nếu bạn đến viếng cổ La Mã thời đó bạn sẽ thấy bên bờ sông Tiber một thành phố lụp xụp. Trong gần một thế kỷ nơi đây đã bị các bạo chúa người Etruscan chiếm làm thuộc địa. Họ đã xây dựng nên những lâu đài, lập ra những hội trường; rồi thì họ bị dân thuộc địa nổi lên đánh đuổi, và từ đó thành phố La Mã cứ phát triển dần qua thời kỳ Cộng Hòa rồi cho đến khi hoàng đế Augustus lên trị vì vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Lúc đó cổ La Mã trở thành thủ đô của một đế quốc. Augustus đã cố gắng dựng lên một thành phố Athen thứ hai.".(2)
Hy Lạp lúc đó đã bị La Mã cai trị. Người La Mã đã dần dà chinh phục tất cả những khu vực trong Địa Trung Hải nơi có người Hy Lạp định cư. "Vô khối người đã đổ vào thành phố La Mã từ những thuộc địa này. Họ hoặc là binh sĩ về đó nghỉ ngơi, hoặc là Đặc Sứ của những xứ Hy Lạp chư hầu, hay là thương gia, chuyên gia, triết gia; ai ai cũng tụ tập về đây. La Mã là một thỏi nam châm của văn minh đế quốc mà Thượng Viện La Mã là đầu não. Có lẽ điều quan trọng nhất là đông đảo các nô lệ lính La Mã bắt được từ các trận chiến ở Phương Đông thường xuyên được đưa đến nước Ý.". (3)
La Mã có một chế độ nộ lệ rất tàn nhẫn nhưng một khi người nô lệ được trả tự do thì họ được hưởng những cơ hội không hề có đối với những nô lệ ở những nơi khác. Người La Mã đã tỏ vẻ hào hiệp hơn hầu hết các dân tộc khác tại Địa Trung Hải thời đó. Nếu một nô lệ được chính thức trả tự do tại La Mã thì người đó sẽ trở thành một công dân La Mã chính thức. Người này vẫn phải chịu một số hạn chế nhưng đến thế hệ con cháu về sau thì họ có thể trở thành công dân La Mã thực thụ với đầy đủ quyền lợi. Chính nhờ thái độ đó mà người La Mã đã thành công về chính trị lẫn quân sự. Ít nhất là trong khía cạnh này, nô lệ của người La Mã còn được đối xử tốt hơn công dân của các chế độ độc tài thời nay một khi họ đã bị trù yếm về lý lịch.
Đế quốc La Mã vào năm 117
Tuy có sức mạnh chính trị và quân sự vô biên và đã khuất phục được Hy Lạp, người La Mã vẫn trân trọng nền văn minh của Hy Lạp đã khai sinh từ nhiều thế kỷ trước. Văn chương Hy Lạp vẫn có một ảnh hưởng rất lớn. Vào thời hoàng đế Augustus, thi hào La Mã Virgil sáng tác ra Thiên Hùng Ca Aeneid ông ta vẫn xem nhà sử văn Homer của Hy Lạp là thần tượng. Tuy nhiên, Virgil cũng có những đóng góp mới: "Virgil sáng tác Thiên Hùng Ca Aeneid để nói về thế giới. Trong Aeneid thì cả tương lai của loài ngườii là một kế hoạch thiên định trong đó La Mã là trung tâm của đế quốc có khả năng bảo đảm hòa bình trên toàn thế giới. Thiên Hùng Ca này nói đến bản năng mưu cầu an sinh của con người, cho nên nó không phải là một câu chuyện phiêu lưu mà còn là một bài thơ về việc cứu rỗi.". (4)
Aenias là người hùng thần thoại của bài thơ; Aeneas là dân của thành Troy và khi thành này bị người Hy Lạp đánh chiếm thì ông đã trốn khỏi nơi đây. Như định mệnh đưa đẩy Aeneas đã sáng lập ra thành phố La Mã mà sau này đã trở thành trung tâm của đế quốc La Mã. Trong quá trình đó Aeneas đã phải hy sinh mọi chuyện, kể cả tình yêu của Dido Nữ Vương của Carthage. Virgil đã dùng chữ Latin "pius" để mô tả đức tính của Aeneas. "Nghĩa chính của "pius" là có tinh thần trách nhiệm đối với gia đình, thần linh, dân tộc và đất nước. Qua bài thơ của Virgil thì ta cảm nhận cái gánh nặng của Aeneas. Đó là những kỳ vọng mà dân tộc và các thần linh đặt vào chàng và định mệnh của chàng. Và khi Aeneas phải hy sinh tình yêu với Nữ Vương Dido, lần đầu tiên trong suốt ba tập sách của bài thơ chàng đã được mô tả là "pius" vì chàng đã vì nhiệm vụ mà quên đi hạnh phúc riêng tư của mình.". (4)
Con đường đến Rome từ thành Troy của Aeneas
Virgil cũng đã thẳng thắn trực diện với một sự thật phủ phàng rằng người Hy Lạp vẫn hay hơn người La Mã trong lĩnh vực ăn nói, khoa học, trong điêu khắc. Qua Thiên Hùng Ca Aeneid ta thấy niềm an ủi của người La Mã đến từ sứ mạng gay go mà họ đã tự giao cho mình. Đó là áp đặt một nền hòa bình và văn minh cho thế giới.
"...Mặc ai đúc ra những tượng đồng như tràn đầy nhựa sống
Mặc ai tạc ra những nết vẻ đăm chiêu từ đá cẩm thạch vô tri
Mặc cho ai trổ tài hùng biện với lời vàng tiếng ngọc
Mặc ai dùng dụng cụ tinh vi để theo dõi chuyển vận của các vì sao
Hỡi công dân La Mã hãy đừng bao giờ quên
Cai dân trị quốc là nghệ thuật của riêng ta
Hãy xây dựng một nền văn minh trong hòa bình..."
Quả thật đoạn văn nổi tiếng trên cho thấy là người La Mã đã khẳng định chỗ đứng của họ trong lịch sử. Họ cũng nhận thức được là việc truyền bá văn minh La Mã không chỉ tùy thuộc vào khả năng dùng vũ lực để chinh phục tất cả, mà còn tùy thuộc vào khả năng đồng hóa của người La Mã nữa. "Chiến thuật hay nhất của người La Mã trong quá trình chinh phục các thuộc địa là không tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo đối nghịch mà tìm cách La Mã hóa họ trong các tập tục, cải biến họ thành một chính quyền bù nhìn để thay La Mã cai trị dân họ.". (2)
Giống như trong nhiều xã hội tiền công nghiệp khác, đối với người La Mã vị thế cao tự nó không quan trọng bằng việc phô trương của cải và có đông đảo nô lệ phục dịch để biểu dương sự thành công của mình.
Đế quốc La Mã cũng đã phô trương uy lực của mình qua những công trình khiến trúc nhất là những gì đánh dấu chiến thắng như là Khải Hoàn Môn. "Khải Hoàn Môn là biểu tượng rõ nét nhất của đế quốc La Mã. Tại Rome có khoảng 70 Khải Hoàn Môn này. Tỷ dụ như là Khải Hoàn Môn Titus ở trung tâm thành phố Rome với hình tượng các chiến lợi phẩm thu được từ Đại Đền Jerusalem mà Titus đã cướp phá. Về mặt lịch sử thì Khải Hoàn Môn này quan trọng vì chúng là biên bản của những thành công về quân sự của La Mã qua các triều đại.". (2)
"...Mặc ai đúc ra những tượng đồng như tràn đầy nhựa sống
Mặc ai tạc ra những nết vẻ đăm chiêu từ đá cẩm thạch vô tri
Mặc cho ai trổ tài hùng biện với lời vàng tiếng ngọc
Mặc ai dùng dụng cụ tinh vi để theo dõi chuyển vận của các vì sao
Hỡi công dân La Mã hãy đừng bao giờ quên
Cai dân trị quốc là nghệ thuật của riêng ta
Hãy xây dựng một nền văn minh trong hòa bình..."
Quả thật đoạn văn nổi tiếng trên cho thấy là người La Mã đã khẳng định chỗ đứng của họ trong lịch sử. Họ cũng nhận thức được là việc truyền bá văn minh La Mã không chỉ tùy thuộc vào khả năng dùng vũ lực để chinh phục tất cả, mà còn tùy thuộc vào khả năng đồng hóa của người La Mã nữa. "Chiến thuật hay nhất của người La Mã trong quá trình chinh phục các thuộc địa là không tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo đối nghịch mà tìm cách La Mã hóa họ trong các tập tục, cải biến họ thành một chính quyền bù nhìn để thay La Mã cai trị dân họ.". (2)
Giống như trong nhiều xã hội tiền công nghiệp khác, đối với người La Mã vị thế cao tự nó không quan trọng bằng việc phô trương của cải và có đông đảo nô lệ phục dịch để biểu dương sự thành công của mình.
Đế quốc La Mã cũng đã phô trương uy lực của mình qua những công trình khiến trúc nhất là những gì đánh dấu chiến thắng như là Khải Hoàn Môn. "Khải Hoàn Môn là biểu tượng rõ nét nhất của đế quốc La Mã. Tại Rome có khoảng 70 Khải Hoàn Môn này. Tỷ dụ như là Khải Hoàn Môn Titus ở trung tâm thành phố Rome với hình tượng các chiến lợi phẩm thu được từ Đại Đền Jerusalem mà Titus đã cướp phá. Về mặt lịch sử thì Khải Hoàn Môn này quan trọng vì chúng là biên bản của những thành công về quân sự của La Mã qua các triều đại.". (2)
Các kiến trúc La Mã không bao giờ đạt được nét thanh tao như của Hy Lạp nhưng chúng rất thực dụng. Chẳng hạn như các mương dẫn nước và các đường lộ rất nổi tiếng. "Ngày nay những con đường đá ba gian thẳng tắp được xây dựng từ hồi đế quốc La Mã vẫn tồn tại như để nhắc nhở cho ta về một hệ thống giao thông liên lạc siêu việt của họ. Ngoài ra còn có các hệ thống kinh đào, tất cả đều vô cùng hữu hiệu. Nhưng điển hình nhất của kiến trúc công chánh La Mã là cái không ai thấy, đó là hệ thống cống thải nước khổng lồ nằm dưới lòng đất. Nhưng phát minh vĩ đại nhất của La Mã trong lĩnh vực kiến trúc là bê tông. Vật liệu này đã giúp cho họ xây dựng những cái vòm mà những dân tộc khác chưa hề dám nghĩ đến.". (2)
Kiến trúc lớn nhất tại một thành phố La Mã thường là một Vận Động Trường, nơi khán giả có thể đến để xem người giết thú cũng như là người giết người. Những trận đấu này diễn ra liên miên đôi khi kéo dài ngày này qua ngày khác. Tại các Vận Động Trường này thì tính chất tàn nhẫn của văn minh La Mã được thể hiện qua cảnh tượng con người khắc phục thú dữ bằng sức vóc và bạo lực, và họ cho đó là biểu tượng của văn minh Thị Tứ - chiến thắng thiên nhiên hoang dã. Nhưng còn cảnh người giết người thì sao? "Vào khoảng giữa trưa người La Mã thường đem các tử tù ra hành quyết. Đó là biểu tượng của sức mạnh của văn minh La Mã, để có thể kiềm chế những kẻ phạm luật và áp đặt trật tự - một thứ trật tự dựa trên bạo lực.". (1)
Những tử tù này nhiều khi bị buộc phải chém giết lẫn nhau, nhưng vào buổi chiều thì thường dân La Mã có thể thưởng thức những màn giao chiến giữa những lực sĩ gọi là Giác Đấu. Họ là những võ sĩ được huấn luyện kỹ càng và những trận đấu của họ có một ý nghĩa khác. "Trong các trận giác đấu không phải lúc nào người ta cũng muốn thấy thật nhiều đầu rơi máu đổ, bỡi vì việc huấn luyện một Giác Đấu rất tốn kém. Điều mà người ta muốn chứng kiến là cái can đảm của một con người trước cái chết vì người La Mã coi khả năng chiến đấu và trực diện với đối thủ trên bãi chiến trường là Đạo Đức. Đức tính chiến đấu có thể vượt qua được cái chết, tức là đạt được một hình thức bất tử mà theo tôi trong đầu óc của người La Mã là niềm tin vào sự bất tử của nhà nước La Mã.". (1)
Nhưng không phải ai cũng ưa thích những cảnh tượng hung bạo này. Chẳng hạn sau đây là một đoạn văn trích từ một lá thư viết ra vào năm 55 trước Công Nguyên:
"...Một con người văn minh cảm thấy thú vị gì khi thấy một con người yếu ớt bị dã thú phanh thây? Hay làm con vật oai phong đẹp đẽ bị đâm chết bằng nhiều mũi lao?..."
Người viết ra những dòng chữ đó là Cicero, một nhân vật then chốt của văn hóa La Mã. Ông ta là một trong những người đã lập ra tiếng Latin. Cicero đã tạo ra một lối viết Latin vừa lưu loát, vừa mạnh mẽ, lại có phần trào lộng nữa. Ông ta là một nhà hùng biện dùng tiếng Latin giỏi nhất thời đó. Vì những tác phẩm về Tu Từ Học và Triết Học, ông được xem là một trong những bật thầy của Châu Âu. Cicero đã tập hợp, phân tích và giải thích những tư tưởng của người Hy Lạp một cách trong sáng và văn vẻ. Nên biết diễn thuyết và hùng biện là trọng tâm của nền giáo dục La Mã. Cicero không phải là con người khiêm tốn. Ông vẫn xem diễn giả là người có tài cao đức trọng. Như trong bài nói về diễn giả ông viết:
"... Diễn giả phải thấu hiểu tất cả những tình cảm thiên phú của con người bỡi vì ông ta phải tận dụng sức mạnh và khả năng ăn nói của mình để xoa dịu hay kích động người nghe. Lời lẽ của một diễn giả phải vừa cuốn hút, vừa sâu sắc, lại vừa trào lộng. Diễn giả phải có kiến thức uyên bác, phải đối đáp một cách nhanh nhẹn với ngôn từ ngắn gọn và lịch sự. Hơn thế nữa, ông ta phải thuộc lịch sử, thông luật pháp, và phải biết vận dụng những tiền lệ trong khi diễn thuyết. Diễn giả phải biết cách gia tăng hiệu quả của chữ nghĩa, không những bằng lời nói mà là trầm bỗng, mà còn bằng sắc mặt cũng như cử chỉ..."
Thành phần Diễn Giả thời La Mã là những người hành nghề tư vấn về luật pháp hay là những chính khách vận động quần chúng để tranh cử, hay là nhũng quan chức đang thực hiện những công việc của chính quyền dân sự. Họ đã tạo ra một uy tín cho luật La Mã mà nay vẫn được xem là một sức mạnh của văn minh. "Luật gia La Mã đã biết biện luận rất là tài tình. Họ là những bậc thầy của nghệ thuật so sánh những tương đồng và tương phản. Và đó chính là nguyên tắc hành xử khi đưa ra những quyết định về pháp lý.". (5)
Nhưng luật pháp tại La Mã không phải để điều hành những quan hệ giữa người dân và nhà nước vì không có một điều luật nào bảo vệ người dân khỏi bị Hoàng Đế hà hiếp cả. Thành phần tội phạm bị đối xử một cách tàn nhẫn và không có một hệ thống nhà tù, cũng như không có một lực lượng cảnh sát bảo vệ nào. Thành ra, đối với giới tội phạm thì luật La Mã chẳng văn minh bao nhiêu. "Người La Mã chẳng thấy có vấn đề gì cả khi luật pháp của họ chỉ là để điều hành cái quan hệ giữa những người giàu có với nhau mà thôi. Nên biết là một trong những khía cạnh quan trọng trong hệ thống sở hữu tài sản của La Mã là thành phần nô lệ. Đôi khi người La Mã cũng tỏ vẻ nhân đạo và bảo vệ người nô lệ nào đó bị chủ đối xử tàn tệ, nhưng nói chung người La Mã quan tâm về tài sản nhiều hơn.". (5)
Người La Mã học triết lý của người Hy Lạp. Một trong số các trường phái Triết Học Hy Lạp là Khắc Kỷ, có vẻ phù hợp với những đức tính của người La Mã trong đó có tính khắc nghiệt. Phái Khắc Kỷ đề cao khả năng tự chế và tính kiên trì. Một trong những triết gia Khắc Kỷ có nhiều ảnh hưởng nhất là Epictetus, một trong những nô lệ Hy Lạp được trả tự do. Trước đó Epictetus đã bị một ông chủ tàn ác đánh gãy chân. "Epictetus thấy rất rõ là thân thể con người rất bị một bạo chúa hay một ông chủ khống chế, hành hạ. Bỡi vậy ông cho rằng để sinh tồn con người phải xem phần xác thịt không phải là bản thể. Ông nói: "...ngươi có thể cùm chân ta nhưng ngươi không thể cùm được ta...", và ông nghĩ rằng bản thể là một cái gì đó nội tại. Ta có thể tạm diễn dịch khái niệm bản thể bằng từ ý chí. Theo Epictetus, ý chí của ông là một bản thể mà không một bạo chúa nào có thể dùng gông cùm để kiềm chế.". (6)
Trường phái Khắc Kỷ khuyên ta bỏ mặt những gì ta không tự chủ được và chú tâm dùng ý chí, loại bỏ tình cảm. Quả thật là một điều khó khăn. Nhiều người thấy triết lý này quá lạnh lùng, thậm chí hơi phi nhân, nhưng khi Seneca một triết gia lên làm cố vấn cho một hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ Nhất thì ông ta đã làm vơi tính khắc nghiệt và tuyệt đối của triết lý Khắc Kỷ khá nhiều. Khía cạnh nhân hậu của Seneca đã được thể hiện qua chuyện ông ghét việc bắt các tử tù giết nhau trong đấu trường. Trong một bức thư Seneca đã viết:
"...Nếu hắn đã giết người thì hắn đáng bị tử hình nhưng các người có tội tình gì mà phải đi coi? Không có gì hại cho tính tình con người bằng chuyện chứng kiến những cảnh giết chóc như trò chơi. Vì những thói xấu thấm vào linh hồn người ta dễ dàng hơn khi ta giải trí..."
Suy tư đó của Seneca phù hợp với một tin tưởng của phái Khắc Kỷ mà chỉ được một vài lĩnh vực tư tưởng của La Mã chấp nhận mà thôi. Đó là niềm tin rằng loài người cùng chia sẻ một thứ Nhân Bản. "Trong suy nghĩ về Nhân Bản chung đó, tất cả mọi người, kể cả nô lệ đều có lý trí, dù có thể ngu đần hoặc dại dột. Đặc biệt người La Mã tin là không ai có bản chất là nô lệ cả. Đó chính là một chủ thuyết rất hay và rất quan trọng đối với văn minh Phương Tây. Nhưng quan điểm này không cho rằng loài vật cũng có trí khôn, cho nên con người có thể hành hạ thú vật thả cữa mà không sợ mang tiếng là vô nhân đạo.". (6)
Một trong những tín điều của phái Khắc Kỷ là con người không phải sợ chết, cho nên tự tử là một chuyện rất bình thường. Seneca đã diễn tả ý này rất rõ rệt:
"Người khôn chỉ sống vừa đủ thôi chứ không bám víu vào chốn trần thế. Cái ta luôn phải chú ý đến là phẩm chất của cuộc sống chứ không phải lo chuyện sống lâu. Khi nào có quá nhiều chuyện xảy ra trong cuộc đời mà gây khó khăn bận trí cho ta thì ta nên tự giải thoát. Đối với người khôn thì không có sự khác biệt nào giữa một cái chết tự nhiên và một cái chết tự vẫn, dù sớm hay là muộn. Đây không phải là một vấn đề giữa chết sớm hay chết muộn, mà là một cái chết tốt lành hay ngắt ngoải, và chết tốt lành có nghĩa là thoát ly một cuộc sống đau khổ."
Seneca đúng là mẫu người dám nói dám làm, ông ta đã tự tử sau khi mất sự tín nhiệm của vị hoàng đế và hết làm cố vấn cho ngài. Điều trái khoáy là hoàng đế đó chính là Nero, một người nổi tiếng là hư đốn. Thành ra dù là cố vấn cho một vị hoàng đế Nhà Đạo Đức vĩ đại của La Mã đã thất bại. Sau Seneca và Epictetus triết gia nổi tiếng thứ ba của phái Khắc Kỷ La Mã là hoàng đế Marcus Aurelius. Triều đại của ông được xem như là một thời hoàng kim, nhưng nhà vua triết gia đó đã phạm một lỗi lầm kinh khủng, đó là đã chọn một người con trai để lên kế vị ông. Và cậu con đã đưa triều đại này đến suy vong. Thành ra nhiều người xưa nay vẫn xem cái chết của Marcus Aurelius vào năm 180 đánh dấu sự cáo chung của thời đại hoàng kim của văn minh La Mã.
Hình minh họa nguồn interner
Kiến trúc lớn nhất tại một thành phố La Mã thường là một Vận Động Trường, nơi khán giả có thể đến để xem người giết thú cũng như là người giết người. Những trận đấu này diễn ra liên miên đôi khi kéo dài ngày này qua ngày khác. Tại các Vận Động Trường này thì tính chất tàn nhẫn của văn minh La Mã được thể hiện qua cảnh tượng con người khắc phục thú dữ bằng sức vóc và bạo lực, và họ cho đó là biểu tượng của văn minh Thị Tứ - chiến thắng thiên nhiên hoang dã. Nhưng còn cảnh người giết người thì sao? "Vào khoảng giữa trưa người La Mã thường đem các tử tù ra hành quyết. Đó là biểu tượng của sức mạnh của văn minh La Mã, để có thể kiềm chế những kẻ phạm luật và áp đặt trật tự - một thứ trật tự dựa trên bạo lực.". (1)
Những tử tù này nhiều khi bị buộc phải chém giết lẫn nhau, nhưng vào buổi chiều thì thường dân La Mã có thể thưởng thức những màn giao chiến giữa những lực sĩ gọi là Giác Đấu. Họ là những võ sĩ được huấn luyện kỹ càng và những trận đấu của họ có một ý nghĩa khác. "Trong các trận giác đấu không phải lúc nào người ta cũng muốn thấy thật nhiều đầu rơi máu đổ, bỡi vì việc huấn luyện một Giác Đấu rất tốn kém. Điều mà người ta muốn chứng kiến là cái can đảm của một con người trước cái chết vì người La Mã coi khả năng chiến đấu và trực diện với đối thủ trên bãi chiến trường là Đạo Đức. Đức tính chiến đấu có thể vượt qua được cái chết, tức là đạt được một hình thức bất tử mà theo tôi trong đầu óc của người La Mã là niềm tin vào sự bất tử của nhà nước La Mã.". (1)
Nhưng không phải ai cũng ưa thích những cảnh tượng hung bạo này. Chẳng hạn sau đây là một đoạn văn trích từ một lá thư viết ra vào năm 55 trước Công Nguyên:
"...Một con người văn minh cảm thấy thú vị gì khi thấy một con người yếu ớt bị dã thú phanh thây? Hay làm con vật oai phong đẹp đẽ bị đâm chết bằng nhiều mũi lao?..."
Người viết ra những dòng chữ đó là Cicero, một nhân vật then chốt của văn hóa La Mã. Ông ta là một trong những người đã lập ra tiếng Latin. Cicero đã tạo ra một lối viết Latin vừa lưu loát, vừa mạnh mẽ, lại có phần trào lộng nữa. Ông ta là một nhà hùng biện dùng tiếng Latin giỏi nhất thời đó. Vì những tác phẩm về Tu Từ Học và Triết Học, ông được xem là một trong những bật thầy của Châu Âu. Cicero đã tập hợp, phân tích và giải thích những tư tưởng của người Hy Lạp một cách trong sáng và văn vẻ. Nên biết diễn thuyết và hùng biện là trọng tâm của nền giáo dục La Mã. Cicero không phải là con người khiêm tốn. Ông vẫn xem diễn giả là người có tài cao đức trọng. Như trong bài nói về diễn giả ông viết:
"... Diễn giả phải thấu hiểu tất cả những tình cảm thiên phú của con người bỡi vì ông ta phải tận dụng sức mạnh và khả năng ăn nói của mình để xoa dịu hay kích động người nghe. Lời lẽ của một diễn giả phải vừa cuốn hút, vừa sâu sắc, lại vừa trào lộng. Diễn giả phải có kiến thức uyên bác, phải đối đáp một cách nhanh nhẹn với ngôn từ ngắn gọn và lịch sự. Hơn thế nữa, ông ta phải thuộc lịch sử, thông luật pháp, và phải biết vận dụng những tiền lệ trong khi diễn thuyết. Diễn giả phải biết cách gia tăng hiệu quả của chữ nghĩa, không những bằng lời nói mà là trầm bỗng, mà còn bằng sắc mặt cũng như cử chỉ..."
Thành phần Diễn Giả thời La Mã là những người hành nghề tư vấn về luật pháp hay là những chính khách vận động quần chúng để tranh cử, hay là nhũng quan chức đang thực hiện những công việc của chính quyền dân sự. Họ đã tạo ra một uy tín cho luật La Mã mà nay vẫn được xem là một sức mạnh của văn minh. "Luật gia La Mã đã biết biện luận rất là tài tình. Họ là những bậc thầy của nghệ thuật so sánh những tương đồng và tương phản. Và đó chính là nguyên tắc hành xử khi đưa ra những quyết định về pháp lý.". (5)
Nhưng luật pháp tại La Mã không phải để điều hành những quan hệ giữa người dân và nhà nước vì không có một điều luật nào bảo vệ người dân khỏi bị Hoàng Đế hà hiếp cả. Thành phần tội phạm bị đối xử một cách tàn nhẫn và không có một hệ thống nhà tù, cũng như không có một lực lượng cảnh sát bảo vệ nào. Thành ra, đối với giới tội phạm thì luật La Mã chẳng văn minh bao nhiêu. "Người La Mã chẳng thấy có vấn đề gì cả khi luật pháp của họ chỉ là để điều hành cái quan hệ giữa những người giàu có với nhau mà thôi. Nên biết là một trong những khía cạnh quan trọng trong hệ thống sở hữu tài sản của La Mã là thành phần nô lệ. Đôi khi người La Mã cũng tỏ vẻ nhân đạo và bảo vệ người nô lệ nào đó bị chủ đối xử tàn tệ, nhưng nói chung người La Mã quan tâm về tài sản nhiều hơn.". (5)
Người La Mã học triết lý của người Hy Lạp. Một trong số các trường phái Triết Học Hy Lạp là Khắc Kỷ, có vẻ phù hợp với những đức tính của người La Mã trong đó có tính khắc nghiệt. Phái Khắc Kỷ đề cao khả năng tự chế và tính kiên trì. Một trong những triết gia Khắc Kỷ có nhiều ảnh hưởng nhất là Epictetus, một trong những nô lệ Hy Lạp được trả tự do. Trước đó Epictetus đã bị một ông chủ tàn ác đánh gãy chân. "Epictetus thấy rất rõ là thân thể con người rất bị một bạo chúa hay một ông chủ khống chế, hành hạ. Bỡi vậy ông cho rằng để sinh tồn con người phải xem phần xác thịt không phải là bản thể. Ông nói: "...ngươi có thể cùm chân ta nhưng ngươi không thể cùm được ta...", và ông nghĩ rằng bản thể là một cái gì đó nội tại. Ta có thể tạm diễn dịch khái niệm bản thể bằng từ ý chí. Theo Epictetus, ý chí của ông là một bản thể mà không một bạo chúa nào có thể dùng gông cùm để kiềm chế.". (6)
Trường phái Khắc Kỷ khuyên ta bỏ mặt những gì ta không tự chủ được và chú tâm dùng ý chí, loại bỏ tình cảm. Quả thật là một điều khó khăn. Nhiều người thấy triết lý này quá lạnh lùng, thậm chí hơi phi nhân, nhưng khi Seneca một triết gia lên làm cố vấn cho một hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ Nhất thì ông ta đã làm vơi tính khắc nghiệt và tuyệt đối của triết lý Khắc Kỷ khá nhiều. Khía cạnh nhân hậu của Seneca đã được thể hiện qua chuyện ông ghét việc bắt các tử tù giết nhau trong đấu trường. Trong một bức thư Seneca đã viết:
"...Nếu hắn đã giết người thì hắn đáng bị tử hình nhưng các người có tội tình gì mà phải đi coi? Không có gì hại cho tính tình con người bằng chuyện chứng kiến những cảnh giết chóc như trò chơi. Vì những thói xấu thấm vào linh hồn người ta dễ dàng hơn khi ta giải trí..."
Suy tư đó của Seneca phù hợp với một tin tưởng của phái Khắc Kỷ mà chỉ được một vài lĩnh vực tư tưởng của La Mã chấp nhận mà thôi. Đó là niềm tin rằng loài người cùng chia sẻ một thứ Nhân Bản. "Trong suy nghĩ về Nhân Bản chung đó, tất cả mọi người, kể cả nô lệ đều có lý trí, dù có thể ngu đần hoặc dại dột. Đặc biệt người La Mã tin là không ai có bản chất là nô lệ cả. Đó chính là một chủ thuyết rất hay và rất quan trọng đối với văn minh Phương Tây. Nhưng quan điểm này không cho rằng loài vật cũng có trí khôn, cho nên con người có thể hành hạ thú vật thả cữa mà không sợ mang tiếng là vô nhân đạo.". (6)
Một trong những tín điều của phái Khắc Kỷ là con người không phải sợ chết, cho nên tự tử là một chuyện rất bình thường. Seneca đã diễn tả ý này rất rõ rệt:
"Người khôn chỉ sống vừa đủ thôi chứ không bám víu vào chốn trần thế. Cái ta luôn phải chú ý đến là phẩm chất của cuộc sống chứ không phải lo chuyện sống lâu. Khi nào có quá nhiều chuyện xảy ra trong cuộc đời mà gây khó khăn bận trí cho ta thì ta nên tự giải thoát. Đối với người khôn thì không có sự khác biệt nào giữa một cái chết tự nhiên và một cái chết tự vẫn, dù sớm hay là muộn. Đây không phải là một vấn đề giữa chết sớm hay chết muộn, mà là một cái chết tốt lành hay ngắt ngoải, và chết tốt lành có nghĩa là thoát ly một cuộc sống đau khổ."
Seneca đúng là mẫu người dám nói dám làm, ông ta đã tự tử sau khi mất sự tín nhiệm của vị hoàng đế và hết làm cố vấn cho ngài. Điều trái khoáy là hoàng đế đó chính là Nero, một người nổi tiếng là hư đốn. Thành ra dù là cố vấn cho một vị hoàng đế Nhà Đạo Đức vĩ đại của La Mã đã thất bại. Sau Seneca và Epictetus triết gia nổi tiếng thứ ba của phái Khắc Kỷ La Mã là hoàng đế Marcus Aurelius. Triều đại của ông được xem như là một thời hoàng kim, nhưng nhà vua triết gia đó đã phạm một lỗi lầm kinh khủng, đó là đã chọn một người con trai để lên kế vị ông. Và cậu con đã đưa triều đại này đến suy vong. Thành ra nhiều người xưa nay vẫn xem cái chết của Marcus Aurelius vào năm 180 đánh dấu sự cáo chung của thời đại hoàng kim của văn minh La Mã.
Nôi dung đuợc trình bày bỡi:
(1) Thomas Worderman - Đại học Nottingham, Anh Quốc
(2) Tiến Sĩ Nitrus Spivy - Đại học Cambridge
(3) Giáo Sư Ed. W. Wollban (?) - Đại học Liverpool
(4) Tiến Sĩ Richard Jenkins - Đai học Oxford
(5) Giáo Sư Andrew Louis - Đại học Luân Đôn
(6) Giáo Sư Richard Sorafgi - Đại học Luân Đôn
Hình minh họa nguồn interner

