14 Jul 2009

(05) Cuộc Chiến Hy Lạp - Ba Tư và Văn Minh Cổ Hy Lạp

Trong thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên một cuộc chiến lịch sử đã diễn ra giữa ngưới Hy Lạp và người Ba Tư mà ngày nay người ta gọi là cuộc chiến thành Troy... Trong phần này sẽ có hai chủ đề được trình bày; thứ nhất là một cuộc chiến đã có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình hình thành của các nền văn minh về sau cũng như việc ghi chép văn minh sử; và thứ hai là sự xuất hiện của nền văn minh Hy Lạp.

                         
Cuộc chiến thành Troy đã được kể lại trong một tác phẩm văn học vĩ đại của thế giới, đó là Thiên Hùng Ca Iliad mà ngày nay người ta cho tác giả là Homer, một nhà thơ Hy Lạp sống vào khoảng thế kỷ thứ Bày hoặc thứ Tám trước Công Nguyên. Thiên Hùng Ca Iliad là một bài thơ dài, mở màn khi cuộc chiến thành Troy giữa người Hy Lạp và người Ba Tư đã diễn ra trong chín năm trời. Lúc bấy giờ người anh hùng vĩ đại nhất của Hy Lạp Achilles cãi nhau với vua Hy Lạp Agamemnon và từ chối không chịu chiến đấu.


"...Hỡi thần nữ hãy hát lên bài ca nói lên sự giận dữ của Achilles người con của Peleus. Một Achilles tức giận, biết bao người phơi thây, muôn vàn dân Achaean khốn khổ, hàng hàng lớp lớp trai tráng mới ngày nào còn oai phong mà nay đã về chầu diêm phủ. Vong hồn liệt sĩ vất vưởng trên những bãi chiến trường, tủi nhục thay trước cảnh xác mình bị diều quạ và dã thú bươi móc. Hỡi nàng thơ, xin hãy bắt đầu kể cho người ta nghe từ khi hai lãnh tụ kình nhau, một bên là Agamemnon chúa tể của muôn người và bên kia Achilles anh hùng sáng chói..."

Thiên Hùng Ca Iliad bắt đầu từ thuở sơ khai nhưng là một áng văn xúc tích và thiên về thực tế nhiều hơn là huyền thoại, "Trong Thiên Hùng Ca Iliad, Homer đã tìm cách giảm tính huyền thoại của câu chuyện, tỷ dụ như ông không đề cập tới những vũ khí thần kỳ, không có nhân vật mình đồng da sắt hay bất tử nào, và quái vật nếu có xuất hiện thì chỉ qua lời kể của các nhân vật trong truyện. Đó là một chủ ý. Homer còn quyết định tránh mô tả những cái gì xấu xa, nhơ bẩn và kinh rợn. Các bài thơ của Homer không nói đến việc dùng người làm vật tế thần, không nói đến chuyện loạn dâm, tránh tả những cảnh huynh đệ tương tàn, hay người ăn thịt người. Cho nên tuy mô tả một cuộc chiến Thiên Hùng Ca Iliad đã vẽ lên một thế giới văn minh và ôn hòa hơn.".(1)

Cho dù nay các học giả có còn tranh cãi về nghi vấn là liệu Homer có phải là tác giả của hai Thiên Hùng Ca Iliad và Odyssey hay không, đối với lịch sử văn minh điều này không quan trọng bằng niên đại của các Thiên Hùng Ca này. Giả thiết có giá trị nhất hiện nay là chúng được soạn ra vào khoảng 650 trước Công Nguyên thay vì 750 như người ta đã nghĩ trước đây. "Từ năm 750 đến năm 650 trước Công Nguyên là thời kỳ mà nghệ thuật tạo hình đã phát triển rất mạnh. Đó cũng là khi mà các xã hội quí tộc phong kiến bắt đầu chuyển sang xã hội Thị Quốc của thời đại cổ điển. Mỗi Thị Quốc là một đô thị có thành lũy bao quanh và bên ngoài là vườn tượt ruộng đồng. Mỗi đô thị có thành lũy đó là trung tâm chính trị, tôn giáo và văn hóa của toàn vùng và là nơi dung thân của mọi công dân sang hèn bất kể trong xã hội. Cũng trong xã hội đó dân Hy Lạp đã bùng lên và đã di cư đến khắp nơi trên vùng Địa Trung Hải và rồi trải dài trên vùng Hắc Hải. Người Hy Lạp lập nên các thành thị dọc theo phía bờ biển bắc của Phi Châu, chung quanh đảo Sicily và miền nam Ý rồi lan tới miền nam nước Pháp và Tây Ban Nha. Đầu thế kỷ đó cũng chính là lúc mà chữ viết được tái du nhập vào Hy Lạp thành ra việc học chữ lại được bắt đầu phát triển.". (2)

Thiên Hùng Ca Iliad có thể ra đời khi văn minh Hy Lạp mới bắt đầu hình thành nhưng trong đó Nhân Bản được Homer đề cao khi nhà thơ cổ Hy Lạp này bày tỏ thương xót trước cái chết của bạn cũng như thù. Homer còn trách là Achilles đã dày xéo cơ thể của kẻ thù." Khi người hùng Achilles giết được Hector, một đối thủ đáng sợ, chàng đã kéo lê xác Hector đằng sau chiến xa của mình và không cho chôn cất. Homer cho đó là một điều sai trái mặc dù Achilles có là con trai của một vị nữ thần, và là một anh hùng vĩ đại đi chăng nữa cũng không được phép làm. Homer đã vô tình đưa ra một qui luật chiến tranh. Tôi cho rằng bất kỳ một quy luật chiến tranh nào cũng là một tiến bộ cho văn minh.". (1)

Một quan điểm mà Homer muốn nhấn mạnh là kẻ thù cũng phải đối xử như là một con người. Đó là quan điểm mà xã hội gọi là văn minh ngày nay vẫn có vẻ chưa quán triệt." Trong chiến tranh người ta thường phi nhân hóa kẻ thù để tận diệt họ mà không nương tay. Nhưng trong Thiên Hùng Ca Iliad Homer buộc ta phải đối diện với sự kiện rằng kẻ thù mà ta đã giết cũng có gia đình thân quyến thương tiếc họ. Chính Achilles cũng đã tỏ vẻ hối hận khi phải đối mặt với Priam, cha của Hector đến đòi đem xác con mình về chôn cất. Trước AchillesPriam nói: "hãy trả cho ta cái xác của con ta và hãy nghĩ đến cha ngươi một người nào khác gì ta". Đó là một nhận thức sâu sắc về nhân bản. Cố nhiên là người Hy Lại không phải lúc nào cũng hành xử theo nhận thức đó.". (2)

Dù chiến thắng Achilles có linh cảm là thế nào chàng cũng chết trên trận mạc. Bài thơ đầy những điềm báo trước một khi Achilles đã giết được Hector, chiến sĩ vĩ đại nhất của dân Ba Tư thì người ta thấy rõ là quân Hy Lạp sẽ chiếm và tiêu hủy thành Troy. Nhưng chính Homer lại mô tả Troy như một thành phố huy hoàng. "Homer xem Troy là một thành phố rất văn minh đã một thời giàu có và phát triển. Toàn bộ anh hùng ca Iliad cho ta thấy quả là một phí phạm khi một thành phố như vậy bị phá hủy. Chính vì vậy sau này trên nhiều khía cạnh thì Troy đã trở thành hình mẫu cho một thành phố Hy Lạp cổ điển. Homer đã đưa ra hai mẫu người anh hùng khác nhau; trong Thiên Hùng Ca Iliad Achilles dũng mãnh đã đánh đông dẹp tây rồi bỏ mạng trên chiến trường. Nhưng trong Thiên Hùng Ca thứ hai gọi là Odyssey thì người hùng Odysseus là hiện thân của sự chịu đựng bền bỉ. Ngày nay trong các ngôn ngữ phương tây chữ Odyssey còn được dùng để chỉ một cuộc hành trình lâu dài đầy gian nan bất trắc giống như cuộc hành trình mà Odysseus đã trải qua trên đường trở về Hy Lạp sau cuộc chiến thành Troy. Để sống sót chàng ta đã phải tỏ ra khôn lanh phi thường. Nhưng đối với người Hy Lạp, qua Odysseus Homer đã đưa ra một mẫu người hùng không mấy thời thượng. "Odyssues rất giỏi tận dụng mọi mưu mẹo để sống sót, nhưng người Hy lạp bấy giờ không trọng vọng mẫu người hùng Odysseus vì theo họ làm anh hùng thì không thể nào cắn răng nhẫn nhục chờ thời và tuyệt đối không bao giờ nói dối một cách động trời như Odysseus.".(1)

Người cổ Hy Lạp coi Odysseus và Achilles là những nhân vật lịch sử có thật và Homer đã có ảnh hưởng sâu đậm đến hai sử gia lớn của thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Đó là Herodotus và Tucidides. Herodotus không những là sử gia đầu tiên mà còn là một sử gia lớn. Cuốn sử của ông không những nói về đề tài chính là cuộc chiến giữa Hy Lạp và Ba Tư mà ông còn mô tả tất cả những chi tiết mà ông có thể kiếm ra được về các dân tộc khác vào thời đó. Cho nên có thể nói ngoài sử học ông còn là một nhà địa dư cũng như là một nhà nhân chủng đầu tiên. Thứ hai là cuộc chiến giữa Hy Lạp và Ba Tư cũng là một cuộc chạm trán giữa hai nền văn minh và Herodotus là nguồn tài liệu chính ngày nay về phía Ba Tư. Từ Homer Herodotus đã học được cách làm sao phối hợp được một khối lượng lớn những dữ liệu vì cho tới thời đó cuốn sử của ông là tác phẩm văn xuôi dài nhất. Và cũng từ Homer Herodotus đã học được cách dùng lối nói trực tiếp để tạo ra kịch tính cho câu chuyện. Trong sử Herodotus, vua Ba Tư và các tướng lãnh dưới quyền đã thốt ra những lời lẽ hay ho vô cùng. "Tuy là một sử gia Hy Lạp, Herodotus không muốn chỉ nói về một bên, ông còn quan tâm tới câu chuyện của kẻ chiến bại Ba Tư và đến bối cảnh của cuộc chiến nói chung. Herodotus đã dùng một số kỷ thuật truyền thông truyền thống như việc sử dụng những lời nói trực tiếp để dựng lại các cuộc tranh luận bên trong triều đình Ba Tư. Để tăng tính sinh động Herodotus đã mượn lời can gián vua Ba Tư của quan Ngự Sử Atrapanus khiến cho nhà vua phải phản ứng.". (3)

Nhưng vua Ba Tư đã không nghe lời Atrapanus và rốt cuộc người Hy Lạp đã đánh bại cuộc xâm lăng của người Ba Tư trong trận hải chiến tại Salamis vào năm 480 BC, rồi sau đó chiến thắng luôn trên bộ. Nếu Ba Tư khuất phục được Hy Lạp vào thời này thì có lẽ thành quả phi thường của nền văn minh Hy Lạp trong vòng 150 năm sau đó sẽ không xảy ra. Thế nhưng tôn giáo Hy Lạp đã không đóng góp được gì nhiều cho lịch sử văn minh như tôn giáo Ba Tư.

Tôn giáo của cổ Ba Tư đã ảnh hưởng đến Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo. Và cho đến bây giờ vẫn còn là một tôn giáo sống động. Người Ba Tư tuân theo giáo điều của Zarathustra sống vào khoảng 1200 năm trước Công Nguyên. (*) Zarathustra là một nhà tư tưởng cao thâm và độc đáo; ông tin vào một Thượng Đế toàn thiện, và toàn chân luôn luôn phấn đấu với một thần linh quái ác và Thượng Đế muốn con người chiến đấu bên cạnh Người để thiện có thể thắng được ác. Chính sự xung đột giữa thiện và ác này khẳng định được vị trí và trách nhiệm của con người. "Tín đồ Zoroaster thấy rõ vai trò của mình trong cuộc sống điều đó có nghĩa đây là một tôn giáo hướng ngoại, và tôn giáo này cho rằng con người vì yêu thương Thượng Đế phải bảo vệ cây cỏ, thú vật. Do đó con người vừa phải coi mình là một tác nhân quan trọng nhưng mặt khác phải khiêm cung bỡi vì mình cũng chỉ là một sinh vật như bao sinh vật khác mà thôi.". (4)

Vào thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên Ba Tư là đế quốc lớn nhất. Trong khi Hy Lạp còn là một tập hợp các Thị Quốc nhỏ thì Ba Tư đã là một cường quốc mà lúc bấy giờ đã nuốt cả Ai Cập và Babylon là hai nước trước đó đã từng là cường quốc. Đế quốc Ba Tư trải dài từ một phần của Ấn Độ sang đến Lybia, từ vùng Caucasus đến Ethiopia. Chính lãnh thổ mênh mông này đã khiến cho người Ba Tư thành lập một hệ thống thông tin liên lạc tốt nhất vào thời đó. "Họ có một hệ thống ngựa trạm rất hữu hiệu, dọc theo các đường chính cứ khoảng mười lăm dặm là có một trạm nơi mà các kỵ sĩ mang công văn có thể thay ngựa để đi tới trạm tới. Đến đêm có một người khác thay, cho nên việc một công văn được chuyển đi 250 dặm trong vòng 24 giờ là chuyện bình thường. Đúng là một thành quả đáng chú ý tới trong thời đó.". (5)

Trong khi đó người Hy Lạp lại định cư tại những thành phố nhỏ cách xa nhau tại Tiểu Á, Bắc Phi, Pháp và Ý cũng như tại Hy Lạp, và nhiều khi các xứ này nằm hai bên bờ biển mênh mông. Nhưng không vì vậy mà người Hy Lạp sống cô lập. "Herodotus đã tiết lộ rằng người Hy Lạp đã đi nhiều nơi để buôn bán hay vì lý do quân sự, ngoại giao, văn hóa, hoặc để dự những lễ hội lớn nhất là những nhà tư tưởng, những nhà kiến trúc, các nhà thơ, thầy thuốc, chính Herodotus là một thí dụ điển hình. Ông ta xuất thân từ Halicarnassus, một thành phố nay nằm trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. Ông ta đã kể lại các khu vực khác nhau của thế gới Hy Lạp như là những chỗ rất quen thuộc với các độc giả của ông.".(2)

                        
                                      Hy Lạp hay còn gọi là đế quốc Athen thời Cổ Đại

Herodotus là một con người văn minh, ông đã đi đó đi đây và thật sự quan tâm đến văn hóa của những nơi ông đến thăm. Những gì ông viết lại là những điều ông đã mắt thấy tai nghe chứ không phải là được nghe người khác kể lại. Những người Hy Lạp khác cũng du hành bốn năm một lần để dự Vận Động Hội Olympic được thành lập vào thế kỷ thứ Tám trước Công Nguyên và trở thành mẩu mực cho Thế Vận Hội Olympic hiện đại. " Vận Động Hội Olympic là một hiện tượng của văn minh Hy Lạp. Từ năm 750 BC đến 650 BC là thế kỷ bành trướng của nền văn minh này. Thoạt đầu hội này chỉ có tính địa phương nhưng đến năm 650 thì nó trở thành một Vận Động Hội cho tất cả các cộng đồng người Hy Lạp. Trong thời gian thi đấu một cuộc đình chiến được tuyên bố trên toàn thế giới Hy Lạp để đình chỉ mọi xung đột giữa các cộng đồng. Người Hy Lạp cho rằng bạo động trong thời gian này là trái với qui luật của tôn giáo cũng như trái với toàn thể lý tưởng và văn minh Hy Lạp.". (2)

Trong khi đó lý tưởng của văn minh Ba Tư có vẻ như được bộc lộ qua các lâu đài nguy nga của các nhà vua Ba Tư, nhất là lâu đài của vua Darius, trong nửa thế kỷ dẫn tới năm 500 BC. Hy Lạp không có một tòa lâu đài nào tương tự như vậy. "Vua Ba Tư thu góp tất cả các vốn liếng, kỷ thuật của thần dân từ nhiều tỉnh thành khác nhau để xây dựng những tòa lâu đài vĩ đại với không biết bao nhiêu là trang trí xa xỉ. Chẳng hạn như thợ nề đến từ Lybia, thợ vàng đến từ Media và Ai Cập, thợ làm ngói màu từ Babylon...v.v. Nhưng người Hy Lạp cho đó là một sự huy hoàng mang tính cách man rợ của phương Đông. Người Hy Lạp còn cho người Ba Tư là mềm yếu trong khi người Hy lạp tin vào huyền thoại kể là họ đã thoát thai từ đá cho nên có bản chất kiên cường hơn những dân tộc khác. Dĩ nhiên huyền thoại này có thật hay không không phải là vấn đề. Câu hỏi nên đặt ra ở đây là liệu người Hy Lạp có thật sự cứng rắn hơn đối thủ Ba Tư hay không. Tưởng cũng nên nhắc lại lúc bấy giờ người Ba Tư theo đạo Zoroaster. "Tín đồ Zoroaster tin là họ có thể tiên đoán những điều không may, ngay cả cái chết nữa. Nói chung tất cả những gì mà ma quỉ cố tình tạo nên để hại cái thiện ở trên đời. Cho nên họ luôn luôn muốn chứng tỏ một thái độ can trường để vượt qua những tai họa trầm luân. Người Zoroaster không nhẫn nhục chịu đựng đau khổ như là hình phạt của Thượng Đế. Zoroaster không phải là một tôn giáo chịu đựng mà là một tôn giáo đầy năng lực và sinh động, và đó là một phần của văn minh Ba Tư.".(4)

Như vậy quan điểm của người Hy Lạp về người Ba Tư là sai nhưng nó đã ăn sâu vào phương Tây và chưa bao giờ mất đi. "Cái hố sâu do ngộ nhận giữa Đông và Tây đã khởi đầu vào đầu thế kỷ thứ Sáu cuối thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên. Và cho đến nay vẫn còn là cột trụ của ý thức hệ Tây Phương vốn cho rằng có một phương Tây tiến bộ duy lý và một phương Đông trái ngược. Quan niệm này đã ra đời trong sự hình thành của nền dân chủ Hy Lạp tại Athen. Trong quá trình đó người Hy Lạp cần một kẻ thù thuộc sắc tộc khác để họ có thể làm nổi bật bản sắc dân tộc Hy Lạp. Chẳng hạn như người Athen càng tin tưởng vào bình đẳng và quyền tự do ngôn luận, và tự cho mình là can đảm và quân tử bao nhiêu thì họ chê người Ba Tư bấy nhiêu về đầu óc kỳ thị, tính ủy mị, ưa xa xỉ và hoàn toàn chống lại tự do ngôn luận. Trong cái nhìn của người Hy Lạp Athen về người Ba Tư những cái kém cỏi xấu xa của người Ba Tư hầu như đều là những gì phản lại những lý tưởng Hy Lạp. Như vậy quan điểm đó có chính xác hay không là một nghi vấn." (6)

                         
                                           Đế quốc Ba Tư

Nhưng người Hy Lạp cũng có lý do để căm thù người Ba Tư. Đối với đế quốc Athen tại biển Aegea, Ba Tư luôn luôn là một đe dọa. Năm 480 khi vua Xerxes của Ba Tư đã làm cỏ thành Athen; hầu như không còn viên đá nào trên đồi Acropolis của Athen còn nguyên vị, khiến cho toàn bộ dân chúng của thành phố này phải di tản. Vua Xerxes cho đốt sạch các đền đài của Athen và như vậy là ông đã cưỡng đoạt hình ảnh các vị thần trong văn hóa Hy Lạp. Người Hy Lạp chỉ thấy cái xấu của đế quốc Ba Tư mà thôi, nhưng còn những điều hay của Ba Tư thì sao? "Lúc bấy giờ Ba Tư đã có một nền hành chánh nói chung khá công minh và họ đã cai trị tất cả thuộc quốc của họ một cách hữu hiệu, nhân đạo và công bằng. Chính quyền đế quốc Ba Tư sẵn sàng bao dung tất cả các tôn giáo địa phương tại các lãnh thổ chư hầu. Tôi cho là đế quốc Ba Tư đã dựng nên một chính quyền trung ương được lòng đa số dân chúng.".(5)

Người Ba Tư nhấn mạnh nhiều đến công lý, lương thiện, sự thật, nhất là trong việc dạy dỗ con trẻ. Điều này đã gây một ấn tượng mạnh cho người Hy Lạp. Herodotus chắc chắn là một trong những người Hy Lạp nể trọng người Ba Tư. Dù sao thì ông cũng đã được sinh ra trong đế quốc Ba Tư và nói chung ông thông hiểu và có cảm tình với người Ba Tư hơn là những người Hy Lạp khác. Điều này đã được biểu lộ qua bộ sử ký của ông. Dù Herodotus không thể thoát ra khỏi ảnh hưởng của truyền thống văn hóa Hy Lạp ông đã có thể nhận thức nghiêm túc và chấp nhận những giá trị ngoại lai. Có thể nói đó là một đức tính rất văn minh.

Thành quả trí thức của Hy Lạp trong thế kỷ thứ Năm trước Công Nguyên là sự xuất hiện của Lịch Sử như là một môn học và là một thể loại Văn Chương. Riêng Thị Quốc nhỏ bé gọi là Athen đã có một cống hiến độc nhất vô nhị cho văn minh thế giới trong các lãnh vực Triết Học, Chính Trị, Nghệ Thuật và Kịch Nghệ.

Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Jesper Criffen - Tác giả "Homer Đối Với Sự Sống Và Cái Chết"
(2) Giáo Sư Oliver Thelflan - Đại Học Oxford, Anh Quốc
(3) Giáo Sư Oswen Muray - Đại Học Oxford
(4) Giáo Sư Boyle - Nhà nghiên cứu tôn giáo Zoroaster
(5) Giáo Sư Piva - Đại Học Luân Đôn
(6) Edide Hall - Tác giả "Hãy Phát Minh Ra Kẻ Dã Man"

(*) Có nhiều nguồn cho rằng ông sống vào khoảng 600-500 BC.

Hình minh hoạ nguồn internet