"Để có hình ảnh cụ thể tôi dùng một cuốn lịch tưởng tượng để so sánh thu nhập của Anh Quốc với Ethiopia, là hai nước có dân số tương tự nhau, tức là khoảng 55 triệu người. Cuốn lịch này cho thấy mất bao lâu thì một người Anh bình thường phải làm việc để tạo ra một số sản phẩm và dịch vụ mà một người Ethiopia bình thường phải mất một năm mới làm ra được. Trước đây lịch này cho thấy là nếu cả hai đều bắt đầu làm việc vào ngày mồng Một tháng Giêng thì đến khoảng ngày mùng Bốn tháng Giêng người Anh đã sản xuất ra được một trị giá mà người Ethiopia phải làm một năm. Hiện nay theo dữ liệu mới nhất thì chỉ đến trưa ngày mùng Ba tháng Giêng, tức là trong chưa đầy ba ngày thì một người Anh đã sản xuất bằng một người Ethiopia làm việc lam lũ cả năm."(1) Đó là sự phân cách giữa hai thế giới gọi là tiên tiến và đang phát triển trong thế kỷ 20.
OECD: Hiệp Hội Các Nước Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (~25 nước)
Đến 2015 phân nửa dân số Phi Châu vẫn chỉ thu nhập 1 đô la mỗi ngày!
BBC, CNN, Boeing, Concorde, quả đất ngày càng thu nhỏ dần. McDonal, Holywood, NTV, các nền văn hóa ngày càng bị Mỹ hóa. Tiếng Anh đang lấn át tất cả những ngôn ngữ khác đã tiến hóa trong 5000 năm qua. Như vậy có phải cả nền văn minh của nhân loại đang tiến đến một thế giới đại đồng hay không?
Một đặc điểm của văn minh trong thế kỷ 20 là nhận thức rằng chỉ khi nào cả thế giới không còn nghèo đói bệnh tật thì nhân loại mới mong hưởng được hòa bình. Và từ đó người ta bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn quốc tế, thực hiện những chiến dịch toàn cầu. "Quả đúng là trong thế hệ vừa qua thì với sự tiếp tay của các nước tiên tiến, các nước đang phát triển đã đạt được những tiến bộ lớn trong công cuộc chống lạc hậu. Tỷ lệ tử vong của trẻ em chẳng hạn, đã giảm ở hầu hết mọi nơi. Tuổi thọ của con người cũng gia tăng, và chính phủ bắt đầu cung cấp thuốc men, dịch vụ y tế cùng với giáo dục cơ bản, rồi nước sạch...v.v. Tất cả những chuyện này cho thấy phẩm chất của cuộc sống đã tăng vọt lên tại khắp các vùng đang phát triển, mặc dù Châu Phi thì vẫn chưa bắt kịp.". (1)
Sau khi giai đoạn thuộc địa hóa và chư hầu hóa trong thế kỷ 20 tàn lụi, những nước phát triển đã và đang tìm cách tạo lập cơ sở cho một cuộc sống văn minh trên toàn cầu. Dĩ nhiên tiềm tàng trong khái niệm cho rằng nghèo đói lạc hậu là mối đe dọa cho an ninh thế giới là hỗn hợp của tính vị tha và vị kỷ. Và từ đó phát sinh ra khái niệm "Geopolitics",tạm dịch là "chính trị toàn cầu", tức là nó kết nối tất cả các vấn đề về phát triển, ngoại giao, kinh tế và chính trị thành một mối. Nhưng về mặt đạo đức cơ bản thì khái niệm bình đẳng toàn cầu chẳng qua là một sự triển khai của bình đẳng trong một xã hội. "Trong quá khứ, chỉ một thiểu số ăn trên ngồi chốc được hưởng nhiều quyền hạn, được ưu đãi cũng như nhận lãnh trách nhiệm. Từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20 thì những quyền hạn đó dần dần được chia sẻ cho mọi thành viên trong xã hội. Nhưng đó là một tiến trình chậm chạp và không đồng đều. Đầu tiên là sự phổ cập của quyền công dân và quyền chính trị. Thế kỷ 19 đã chứng kiến nhiều cải tổ chính trị quan trọng, và ngày càng có nhiều người được quyền đi bầu. Vào đầu thế kỷ 20 thì người ta bắt đầu ý thức là mọi người có quyền hưởng an sinh xã hội, được quyền bảo đảm sức khỏe, được quyền giáo dục, và quyền được hưởng cuộc sống văn minh.". (2)
Điều oái oăm là tại phương Tây việc công nhận quyền lợi cá nhân đã diễn ra trong khi xã hội đang dần dần trở thành một thị trường, nơi thủ lợi là động cơ chính cho hầu hết mọi hoạt động. Trong tình huống đó thì vai trò hổ trợ an sinh của gia đình, xóm giềng trong một xã hội truyền thống dần dần phai nhạt. Và chính phủ phải nhận trách nhiệm săn sóc người già, người bệnh, người sa cơ lỡ vận...v.v. Và như vậy, quyền được hưởng an sinh xã hội trở thành quyền cơ bản. Nhưng tiến bộ về Dân Quyền lớn nhất trong thế kỷ 20 vẫn là sự công nhận Nữ Quyền. "Được đi bầu tức là có được một tiếng nói chính trị. Từ thế kỷ 19 phụ nữ đã có một số quyền dân sự, như quyền sở hữu tài sản riêng trong hôn nhân và quyền giám hộ con cái trong trường hợp ly dị. Đặc biệt là quyền được hưởng phúc lợi trong khi thai nghén, trong việc nuôi dạy con cái...v.v. Quyền được giáo dục bình đẳng cũng rất quan trọng. Chính thành phần phụ nữ có học đã tiên phong khởi phát các phong trào kêu gọi cải cách xã hội, chẳng hạn như từ hạn chế sinh đẻ đến quyền được phá thai. Quyền tự quyết về cơ thể đó được gắn liền với nhận thức rằng phụ nữ là một cá nhân chứ không phải chỉ là lệ thuộc của gia đình mà thôi.". (3)
Có thể nói cuộc tranh đấu cho Nữ Quyền là một tiến trình tạo dựng tính tự trọng. Kẻ thù của tính tự trọng không chỉ là áp bức mà còn là thất nghiệp và nghèo đói. "Ở đâu cũng vậy, tính tự trọng của mỗi công dân là biểu hiện của một xã hội văn minh. Tự trọng đến từ khả năng tự định đoạt, tự túc tự cường, và tự nhận thức về mỗi con người trong một xã hội. Cho nên những ai bị thất nghiệp, bị cấm cản, tức là không được phép tham gia vào những hoạt động bình thường của xã hội thì sẽ cảm thấy buốn chán, bất lực và từ đó dễ đi đến chỗ tiêu cực như là bạo hành, nghiện ngập, lừa đảo hay là trộm cắp. Tất cả những điều đó đều làm lung lay nền móng của một xã hội văn minh và ảnh hưởng đến tất cả mọi thành phần trong đó.". (1)
Xã hội nào cũng xem thất nghiệp là một tệ trạng cần tránh, trong khi đó tại nhiều nơi, phụ nữ và những thành phần thiểu số vẫn còn bị đối xử phân biệt vì lý do xã hội, tôn giáo hay chính trị. Tỷ dụ như thành phần đồng tính luyến ái, xưa nay vốn bị ngược đãi và bị gạt ra ngoài lề xã hội. Và mãi cho tới cuối thế kỷ 20 thì tại các nước phương Tây mới thấy có cải thiện về vị thế của người đồng tính luyến ái trong xã hội. Ngày nay tranh cãi về bình quyền đặt nặng khía cạnh đạo đức hơn là dân chủ như trước đây.
Thật là lý thú khi ta thấy các xã hội tiên tiến một thời đã không ngần ngại sử dụng sức mạnh của mình để tàn sát nhau và để thống trị thế giới, thì nay lại quan tâm nhiều hơn đến đạo đức. Và đó là đạo đức không chỉ giữa con người với nhau mà còn giũa con người và thiên nhiên kể cả thú vật. Chính thái độ này đã khiến cho nhiều người quan ngại đến những ứng dụng của khoa học, nhất là sau khi hai quả bom nguyên tử đã tàn phá Hirosima và Nagasaki.
Hai cuộc đại chiến đã thúc đẩy khoa học, nhưng trong thời bình thì tiến bộ khoa học và tăng trưởng kinh tế đi đôi với nhau. "Sau năm 1945 thay đổi về kỷ thuật đã gia tăng rất nhanh. Từ những năm 1970 cho tới nay nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế Âu Châu và Bắc Mỹ đã tăng trưởng nhanh chưa từng thấy. Khối lượng tài nguyên được đầu tư vào khoa học kỷ thuật, vào nghiên cứu và phát triển, vào canh tân đã gia tăng với tầm mức khổng lồ. So với tăng trưởng của toàn thể nền kinh tế tốc độ tăng trưởng của khoa học kỷ thuật cao hơn nhiều.". (4)
Nhiều người nghĩ rằng tiến bộ khoa học đang gia tăng ở một tốc độ nguy hiểm, và ngay cả những ứng dụng hòa bình của nó cũng có vấn đề. Bỡi vì khoa học gia đang lao vào các lãnh vực mà người ta chưa có thể thấu đáo tất cả những hậu quả của chúng, về đạo đức cũng như về môi sinh. Một trong những lĩnh vực đó là Di Truyền Học. Trong những năm gần đây, Di Truyền Học đã đạt được nhiều tiến bộ đột phá, đặc biệt là trong những ứng dụng về Y Khoa. Những khám phá về gene có thể giúp cho ta đoán trước được tương lai về sức khỏe cũng như bệnh lý của một người, và nhờ đó có thể chuẩn bị trước các biện pháp phòng ngừa.
Bộ gene di truyền của một người nam giới bình thường bao gồm 22 cặp Nhiễm Sắc Thể thường (22 pairs of Autosomes) và 2 Nhiễm Sắc Thể giới tính (2 Sex Chromosomes) Lưu ý cặp Nhiễm Sắc Thể 21. (Nguồn: http://ghr.nlm.nih.gov/handbook/basi...anychromosomes)

Bộ gene di truyền của một người nữ giới bị Hội Chứng Down. Lưu ý sự hiện diện của Nhiễm Sắc Thể 21 thứ ba (Trisomy 21) là nguyên nhân gây ra Hội Chứng Down (Nguồn:http://www.miscarriage.com.au/images/pages/t21karyo.jpg)

Bộ gene di truyền của một người nữ giới bị Hội Chứng Down. Lưu ý sự hiện diện của Nhiễm Sắc Thể 21 thứ ba (Trisomy 21) là nguyên nhân gây ra Hội Chứng Down (Nguồn:http://www.miscarriage.com.au/images/pages/t21karyo.jpg)
Bằng cách theo dõi bộ gene di truyền trong giai đoạn đầu của thai kỳ Y Học có thể phát hiện sự bất thường và ngăn ngửa việc cho ra đời những em bé bất hạnh.(Nguồn: http://farm3.static.flickr.com/2039/...86d1e4d478.jpg)

Triệu chứng không đông máu (Haemophilia) gây ra bỡi sự bất thường trong đoạn gene trên Nhiễm Sắc Thể giới tính X, đoạn Xq28. (Nguồn: http://upload.wikimedia.org/wikipedi...tivation_X.PNG)
Mới nghe qua thì thật là tích cực. Nhưng theo John Neal, một nhà văn chuyên về khoa học, thì ông đã báo động là nó đã đưa đến những vấn đề nan giải. "Rõ ràng nhất là các công ty bảo hiểm sẽ muốn có những thông tin này. Rồi những ai cho bạn vay tiền dài hạn như để mua nhà cũng muốn thông tin này. Rồi những chủ nhân xí nghiệp hay là công ty cũng muốn biết trước về sứ khỏe của mỗi công nhân trước khi thu dụng họ. Rồi cả chuyện dựng vợ gả chồng, cũng lệ thuộc vào thông tin về gene này. Và cứ như thế thì những người bất hạnh vì có gene xấu lại sẽ gặp nhiều gian truân trong cuộc đời. Từ đó sẽ sinh ra một giai cấp bị ruồng bỏ vì di truyền. Và không ai có thể trách cứ nếu họ phản ứng, và điều này sẽ tạo ra tình trạng bạo động, phân hóa trong xã hội. Cuộc cách mạng về di truyền sẽ tạo thêm nhiều phân cách khác nữa. Tỷ dụ như phần lớn nhũng công trình nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào những bệnh tật thường thấy ở các nước giàu, và chẳng ngó ngàng gì đến những bệnh của các nước nghèo. Và nếu tình trạng này tiếp diễn thì khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo sẽ tăng thêm nữa.". (5)
Sức mạnh kỷ thuật và kinh tế của những trung tâm sản xuất phim ảnh như Holywood có nghĩa là phim của Mỹ được tung ra khắp nới trên thế giới, phóng lớn hình ảnh của Hoa Kỳ như là một biểu tượng của văn minh sang trọng rất đáng mơ ước. Chắc cũng không phải do ngẫu nhiên mà cả hai cái tên theo ngữ âm của Holywood là "Hồ Ly Vọng" hay "Hoa Lệ Ước" đều diễn tả cái quyến rũ của phim ảnh Mỹ. Cho nên từ đó mới sinh ra cái hiện tượng gọi là "Mỹ hoá" nhiều nền văn hóa khác. Không những cốt truyện và bối cảnh mà tài tử điện ảnh cũng trở thành tác nhân của hiện tượng toàn cầu hóa này. "Những ngôi sao điện ảnh này là hiện thân của những nhân cách anh hùng rất dễ nhận ra. Đó là những hình ảnh gần như bất biến, cho dù họ có đóng nhiều vai khác nhau, nhiều nhân vật khác nhau đi chăng nữa, và đó chính là sức hấp dẫn. Giới hâm mộ những ngôi sao này thường sùng bái những thần tượng của họ, và dĩ nhiên tất cả mọi khả năng của môi trường truyền thông đại chúng đều được huy động để phô trương các siêu sao và duy trì vị thế của họ trong thị trường.". (6)
"Quả thật ta thấy có một số dấu hiệu của hiện tượng toàn cầu hóa trong văn hóa thế giới. Đặc biệt là văn hóa của tuổi trẻ qua đó nhân sinh quan, hàng hóa và sản phẩm của Mỹ lan tràn khắp thế giới. Hầu như khắp năm châu bốn bể ai cũng biết nước ngọt Coca Cola, bánh mì thịt McDonal và quần jean Lewis. Đó là điều chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Đây là một hiện tượng tương đối còn mới cho nên ta không biết hậu quả của nó sẽ như thế nào. Tôi đoán là văn minh nhân loại sẽ không tiến tới một dạng đồng nhất vì mỗi dân tộc vẫn quí trọng tiếng mẹ đẻ, những truyền thuyết và thế giới quan của mình. Cố nhiên là ngày càng có nhiều người hơn có thể tiếp cận với một nền văn hóa quốc tế mà phần lớn mang đầy ảnh hưởng của văn hóa Hoa Kỳ qua ống kính của Holywood hay qua NTV. Nhưng có lẽ trong một chừng mực nào đó người ta chỉ sẽ nếm thử những món đồ đó rồi bỏ qua chúng. Theo tôi, điều khá kỳ lạ là tiến trình toàn cầu hóa về lâu về dài sẽ khiến người ta tôn trọng những nét văn hóa đặc thù của mình hơn.". (7)
Trong thế kỷ 20 máy điện toán đã được thu nhỏ thành máy vi tính có thêm nhiều kỷ năng và trở thành một thứ dụng cụ tùy thân. Đối với thông tin đại chúng cuộc cách mạng điện toán này quan trọng chẳng khác gì việc phát minh ra nghề in và máy in. Trước đây điều kiện cần thiết để trở nên một thành viên của một xã hội văn minh là phải biết chữ. Ngày nay ta có thể liệt kê thêm một khả năng là phải biết dùng máy vi tính, ít nhất là tại những nước mà mọi hoạt động đều tùy thuộc vào hệ thống điện toán. Biết chữ và biết dùng máy vi tính là hai khả năng có nhiều mối tương quan với nhau. "Người sử dụng máy vi tính cần phải dùng bàn phiếm để viết các mệnh lệnh dưới dạng các mẫu tự và số, tức là họ phải dùng a, b, c...họ phải dùng chữ và đặt câu. Cho nên muốn dùng máy vi tính thì trước hết ta phải biết chữ, và tựu trung, hứa hẹn của một thế giới thông tin phong phú chắc chắn là một động lực khiến cho người ta trở thành biết chữ để tham gia vào một thế giới văn minh.". (8)
Tốc độ của cuộc cách mạng này thay đổi luôn cả khái niệm của con người về thời gian và không gian. "Tôi có thể dùng hai tiêu chuẩn để thẩm định tầm mức của một cuộc cách mạng kỷ thuật. Thứ nhất là tốc độ vận hành của thiết bị; và thứ hai là quá trình làm cho các thiết bị đó ngày càng trở nên gọn nhẹ hơn. Tỷ dụ như cuộc cách mạng trong lĩnh vực vận tải thì sau thế chiến thứ II thời gian cần thiết để một chiếc tàu vượt qua Đại Tây Dương là khoảng từ 10 ngày cho đến hai tuần. Nhưng ngày nay, với máy bay siêu thanh như là Concorde, thì thời gian này rút ngắn chỉ còn hai hay ba tiếng đồng hồ mà thôi. Như vậy thì cuộc cách mạng về giao thông quốc tế đã tiến nhanh gấp 300 lần. Và trong lãnh vực điện tử thì tốc độ đó là vào khoảng 500 lần, nhưng khi ta nói đến tỷ lệ thu nhỏ thiết bị thì phải đến 1/10,000 lần.". (8)
Ngày nay một cái đồng hồ đeo tay có thể chứa một con chip vi xử lý với chức năng bằng cả một giàn máy điện toán lớn bằng một căn hộ cách đây 50 năm. Đó là một tiện ích thấy rõ.
Nhưng mặt trái của cuộc cách mạng điện tử này là gì?
Cuộc cách mạng này gia tăng hiệu năng của lao động và tạo ra nhiều nghành nghề mới. Nhưng hậu quả trước mắt là vô số công nhân viên trong những nghành nghề truyền thống đã bị mất việc. Cuộc cách mạng điện toán còn nới rộng khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo. Cần phải nói là các nước nghèo vẫn là số đông, nơi khoa học kỷ thuật chẳng thay đổi gì nhiều trong 50 năm qua. "Khi ta nói đến khoa học và kỷ thuật trong thế kỷ 20 chúng ta thường tập trung vào Hoa Kỳ, Bắc Âu, Anh Quốc và Nhật Bản. Nhưng những nước này chỉ là một phần nhỏ của nhân loại. Nếu ta xét đến tác động của khoa học và kỷ thuật trên con người tiêu biểu của thế kỷ 20, thì tốt hơn ta nên so sánh tình cảnh của một người nông dân tại Trung Quốc vào những năm 50 và ngày nay chẳng hạn. Và như thế thì nhận định về phúc lợi của khoa học kỷ thuật trong thế kỷ 20 sẽ khác hẳn. Nói về cách mạng giao thông ngày nay người ta vẫn sản xuất ra nhiều xe đạp hơn là xe hơi. Như vậy, xe đạp vẫn là kỷ thuật hiện hành đối với một số lớn dân của thế giới.". (4)
Những bước tiến vượt bậc trong Công Nghệ Sinh Học đã cho ra đời Kỷ Thuật Nhân Bản. Hai mẹ con chú cừu Dolly. (Nguồn:http://cincinnati.com/nie/archive/02-27-07/022607-1.jpg)
Kỷ Thuật Nhân Bản nhanh chóng được ứng dụng vào con người (Nguồn: https://webspace.utexas.edu/lpy55/hu...ng-diagram.gif
Nếu việc nhân bản được áp dụng rộng rãi vào con người, đây là những bộ mặt của thế hệ tương lai (Nguồn:http://www.diplomatie.gouv.fr/en/IMG...9dossier97.jpg)
Tuy có đôi chút hài hước và mỉa mai nhưng với Công Nghệ Sinh Học hiện đại, những sinh vật như thế này không mấy chốc sẽ được nhìn thấy.(Nguồn:http://www.looptvandfilm.com/blog/wearefamily.jpg)
Nhưng cái lo về những nguy hiểm của khoa học tăng theo tỷ lệ thuận với những kỳ vọng về nó. Chúng ta muốn thấy khoa học mới , kỷ thuật mới sẽ tạo ra những thay đổi dứt khoát và nhanh chóng. Tỷ như bom nguyên tử sẽ hủy bỏ chiến tranh. Tỷ như một loại hoa màu mới sẽ tiêu trừ nạn đói. Một thứ thuốc mới có thể trị được bá bệnh. Trong kỷ nguyên thông tin và cạnh tranh tài chánh thì chính các nhà khoa học và kỷ thuật cũng đã tận dụng mọi phương tiện thông tin để tuyên truyền cho những công trình nghiên cứu của họ. Từ khi những phương tiện truyền thông đại chúng ra đời thì ranh gới giữa thông tin và giải trí đã ngày càng trở nên mờ nhạt. Điển hình nhất là trong điện ảnh, một phát minh của thế kỷ 20.
"Quả thật ta thấy có một số dấu hiệu của hiện tượng toàn cầu hóa trong văn hóa thế giới. Đặc biệt là văn hóa của tuổi trẻ qua đó nhân sinh quan, hàng hóa và sản phẩm của Mỹ lan tràn khắp thế giới. Hầu như khắp năm châu bốn bể ai cũng biết nước ngọt Coca Cola, bánh mì thịt McDonal và quần jean Lewis. Đó là điều chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Đây là một hiện tượng tương đối còn mới cho nên ta không biết hậu quả của nó sẽ như thế nào. Tôi đoán là văn minh nhân loại sẽ không tiến tới một dạng đồng nhất vì mỗi dân tộc vẫn quí trọng tiếng mẹ đẻ, những truyền thuyết và thế giới quan của mình. Cố nhiên là ngày càng có nhiều người hơn có thể tiếp cận với một nền văn hóa quốc tế mà phần lớn mang đầy ảnh hưởng của văn hóa Hoa Kỳ qua ống kính của Holywood hay qua NTV. Nhưng có lẽ trong một chừng mực nào đó người ta chỉ sẽ nếm thử những món đồ đó rồi bỏ qua chúng. Theo tôi, điều khá kỳ lạ là tiến trình toàn cầu hóa về lâu về dài sẽ khiến người ta tôn trọng những nét văn hóa đặc thù của mình hơn.". (7)
Trong thế kỷ 20 máy điện toán đã được thu nhỏ thành máy vi tính có thêm nhiều kỷ năng và trở thành một thứ dụng cụ tùy thân. Đối với thông tin đại chúng cuộc cách mạng điện toán này quan trọng chẳng khác gì việc phát minh ra nghề in và máy in. Trước đây điều kiện cần thiết để trở nên một thành viên của một xã hội văn minh là phải biết chữ. Ngày nay ta có thể liệt kê thêm một khả năng là phải biết dùng máy vi tính, ít nhất là tại những nước mà mọi hoạt động đều tùy thuộc vào hệ thống điện toán. Biết chữ và biết dùng máy vi tính là hai khả năng có nhiều mối tương quan với nhau. "Người sử dụng máy vi tính cần phải dùng bàn phiếm để viết các mệnh lệnh dưới dạng các mẫu tự và số, tức là họ phải dùng a, b, c...họ phải dùng chữ và đặt câu. Cho nên muốn dùng máy vi tính thì trước hết ta phải biết chữ, và tựu trung, hứa hẹn của một thế giới thông tin phong phú chắc chắn là một động lực khiến cho người ta trở thành biết chữ để tham gia vào một thế giới văn minh.". (8)
Tốc độ của cuộc cách mạng này thay đổi luôn cả khái niệm của con người về thời gian và không gian. "Tôi có thể dùng hai tiêu chuẩn để thẩm định tầm mức của một cuộc cách mạng kỷ thuật. Thứ nhất là tốc độ vận hành của thiết bị; và thứ hai là quá trình làm cho các thiết bị đó ngày càng trở nên gọn nhẹ hơn. Tỷ dụ như cuộc cách mạng trong lĩnh vực vận tải thì sau thế chiến thứ II thời gian cần thiết để một chiếc tàu vượt qua Đại Tây Dương là khoảng từ 10 ngày cho đến hai tuần. Nhưng ngày nay, với máy bay siêu thanh như là Concorde, thì thời gian này rút ngắn chỉ còn hai hay ba tiếng đồng hồ mà thôi. Như vậy thì cuộc cách mạng về giao thông quốc tế đã tiến nhanh gấp 300 lần. Và trong lãnh vực điện tử thì tốc độ đó là vào khoảng 500 lần, nhưng khi ta nói đến tỷ lệ thu nhỏ thiết bị thì phải đến 1/10,000 lần.". (8)
Ngày nay một cái đồng hồ đeo tay có thể chứa một con chip vi xử lý với chức năng bằng cả một giàn máy điện toán lớn bằng một căn hộ cách đây 50 năm. Đó là một tiện ích thấy rõ.
Nhưng mặt trái của cuộc cách mạng điện tử này là gì?
Cuộc cách mạng này gia tăng hiệu năng của lao động và tạo ra nhiều nghành nghề mới. Nhưng hậu quả trước mắt là vô số công nhân viên trong những nghành nghề truyền thống đã bị mất việc. Cuộc cách mạng điện toán còn nới rộng khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo. Cần phải nói là các nước nghèo vẫn là số đông, nơi khoa học kỷ thuật chẳng thay đổi gì nhiều trong 50 năm qua. "Khi ta nói đến khoa học và kỷ thuật trong thế kỷ 20 chúng ta thường tập trung vào Hoa Kỳ, Bắc Âu, Anh Quốc và Nhật Bản. Nhưng những nước này chỉ là một phần nhỏ của nhân loại. Nếu ta xét đến tác động của khoa học và kỷ thuật trên con người tiêu biểu của thế kỷ 20, thì tốt hơn ta nên so sánh tình cảnh của một người nông dân tại Trung Quốc vào những năm 50 và ngày nay chẳng hạn. Và như thế thì nhận định về phúc lợi của khoa học kỷ thuật trong thế kỷ 20 sẽ khác hẳn. Nói về cách mạng giao thông ngày nay người ta vẫn sản xuất ra nhiều xe đạp hơn là xe hơi. Như vậy, xe đạp vẫn là kỷ thuật hiện hành đối với một số lớn dân của thế giới.". (4)
"Cái nguy cơ lớn là các nước phát triển phương Tây cứ cho là những gì họ đang làm là khuôn mẫu cho cả thế giới. Và vì thế ai ai cũng nên nhập cuộc với họ. Căn cứ vào văn hóa áp đảo của phương Tây trong lãnh vực truyền thông toàn cầu thì ta không thể nào cho đó là hoàn toàn phù hợp với những nền văn hóa khác. Văn hóa và truyền thống Âu Tây rất là phong phú, điều đó không ai chối cãi. Nhưng những nền văn hóa và truyền thống khác cũng phong phú không kém. Thành thử các nước đang phát triển không nên vì áp lực xã hội và kinh tế mà phải tham gia vào một cuộc chơi do các nước phát triển chi phối.". (4)
Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Học giả Simon Maxwell -Viện nghiên cứu về phát triển Sussex
(2) Giáo sư John Scott - Đại học Essex
(3) Giáo sư Olwen Hopton - Đại học Âu Châu tại Florence
(4) Giáo sư David Ettington - Đại học Imperial College, Luân Đôn
(5) John Neal - Nhà văn chuyên về các vấn đề khoa học
(6) Ian Christy - Sử gia về điện ảnh Holywood
(7) Raymond Snoddy - Biên tập viên về truyền thông của báo TIMES
(8) Doren Swaye - Bảo tàng khoa học Luân Đôn
(Hình minh họa nguồn internet)






