27 Jun 2009

(13) Châu Âu Thế Kỷ 19 - Nước Anh và Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp

"Với tiếng gầm rung chuyển thị thành, con tàu chuyển mình, sắt nghiến lên sắt, thép tát vào thép, tiếng giao thoa ngân lên khắp phố phường. Ánh kim loại nhấp nhoáng trên những cánh đồng cỏ, khi ẩn khi hiện như chui ra từ lòng đất. Trong màn đêm nặng trĩu sương mù, tiếng "rầm...rầm" lớn dần rồi ập đến như một cơn lốc. Có lúc con tàu tung mình lao vào giữa ngày nắng chan hòa, sáng chói và đồ sộ. Tiếng còi hụ phá tan tĩnh lặng còn đọng lại trên lá cây ngọn cỏ, vấn vương trên những nhánh lúa mì, bám víu lấy những khối đá phấn. Thời gian bay đi, khoảng cách ngắn dần, hành trình cùa người lữ du chẳng khác nào một đời người thu gọn, mà đường ray là định mệnh an bài, và con tàu là khí cụ vô tâm vô tình, không gì cản nổi, như lưỡi hái của thần chết..." Đó là một đoạn văn trích từ cuốn tiểu thuyết "Dombey And Sons" của văn hào Anh Charles Dickens sống vào thế kỷ thứ 19.

                        


Tại sao chiếc xe lửa lại được mô tả như một linh vật kinh khủng như vậy? Thật ra ngay từ ban đầu, cái đầu máy khổng lồ, ồn ào, phun khói đen nghịt như là một con rồng cơ khí đã kích thích trí tưởng tượng của nhiều người Anh. Chiếc xe lửa thời đó đáng được tôn vinh bỡi vì nó là một phương tiện hữu hiệu nhất để kết nối mọi miền của vương quốc Anh. Nhưng chính cái đầu máy hơi nước, vừa là một phát minh cơ khí kỳ diệu, vừa là hiện thân của cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa Anh Quốc lên ngôi vị thượng phong trên thế giới. Thời hoàng kim này còn đựoc gọi là "thời Victoria", tên của Nữ Hoàng Anh.


Nước Anh thời Victoria đã trở nên giàu có và hùng mạnh nhất thế giới nhờ có hai yếu tố. Đó là, cuộc cách mạng công nghệ và vai trò trung tâm tài chánh hàng đầu thế giới của thủ đô Luân Đôn. "Luân Đôn đã trở thành trung tâm tài chánh của thế giới vào năm 1815 khi Anh Quốc và các nước đồng minh thắng trận trong cuộc chiến dai dẳng chống lại hoàng đế Napoleon của Pháp. Trước đó vào thế kỷ thứ 18 Amsterdam thủ đô Hà Lan là trung tâm tài chánh của thế giới, vào những năm 1790 quân Pháp đã chiếm nơi này, và từ đó Amsterdam không bao giờ hồi phục được vị trí cũ. Trong chiến tranh dai dẳng đó, nhiều thương gia và nhà tài chánh tài giỏi đã di cư sang nước Anh và phần lớn định cư tại Luân Đôn. Cho nên trong suốt thế kỷ thứ 19, từ năm 1815 trở đi khi hòa bình trở lại trên châu lục này Anh Quốc đã thụ hưởng lợi lộc tài chánh nhờ có phần đóng góp của thành phần chuyên gia tài chánh di cư này.". (1)

Trong 50 năm sau đó nước Anh đã vượt lên trước thế giới và trở thành một cường quốc. Dĩ nhiên công cuộc thuộc địa hóa các nước nhược tiểu đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này, nhưng yếu tố chính là sức mạnh công nghiệp của Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 18 trong ngành dệt. Ngành dệt của Anh đã triển khai từ phương pháp thủ công nghệ sang công nghiệp cơ xưởng. Và sau ngành dệt là sắt thép, một loại công nghiệp đã phát triển do hoàn cảnh kinh tế và môi sinh của Anh. "Sản xuất sắt thép là một đại công nghiệp đã thúc đẩy những tiến bộ về kỷ thuật. Một trong những nguyên nhân là do Anh Quốc thiếu gỗ rừng. Vì gỗ là một nguyên liệu và nhiên liệu chính, rừng của Anh đã bị khai thác cạn kiệt trong một thời gian ngắn. Do đó người Anh đã phải dốc công vào tìm một phương thức mới để luyện sắt bằng than đá. Nhưng vào cuối thế kỷ 17 thì trữ lượng than đá trên mặt đất đã kiệt quệ và người Anh đã phải khai thác than đã nằm sâu trong lòng đất. Và nếu muốn đào xuống dưới mực nước ngầm để tìm than họ phải tìm cách bơm nước ra khỏi mỏ than. Từ đó người Anh đã phát minh ra loại máy hơi nước; và máy hơi nước chính là trọng tâm của cuộc cách mạng công nghệ. Nhờ phát minh này mà công nghiệp, lần đầu tiên, đã có một nguồn động lực cơ khí, bền bỉ, tiện dụng. Máy hơi nước đã trở thành trái tim của công nghiệp Anh Quốc trong thế kỷ 19. Từ máy bơm cho tới các phương tiện sản xuất và vận chuyển, mà lợi hại nhất là hệ thống xe lửa.". (2)

Hệ thống giao thông đường sắt là một trong những công trình thuộc hạ tầng cơ sở có tầm mức quốc gia đầu tiên của Anh. Nó đã biến đổi bộ mặt của nước này một cách qui mô. Ngay từ ban đầu, cái đầu máy xe lửa ồn ào, phun khói đen nghịt như là một con rồng cơ khí đã kích thích trí tưởng tượng của nhiều người trong đó có văn hào Charles Dickens. "Từ thập niên 1840 trở đi, nhu cầu về sắt, gạch và gỗ để xây đụng đường ray và nhà ga xe lửa đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế Anh Quốc. Nghành đường sắt xử dụng rất nhiều nhân công. Trong thế kỷ 19 công ăn việc làm trong nghành hỏa xa được mọi người ưa thích. Nhu cầu sắt thép và than đá ngày càng tăng, và hệ thống đường sắt của Anh đã trở nên rất quan trọng trong việc giảm chi phí chuyên chở và khiến cho người Anh đi lại trong nước dễ dàng hơn.". (1)

Một hệ thống giao thông công cộng phổ cập và tiện dụng đã thay đổi nếp sống của dân Anh trên nhiều mặt. Quan trọng nhất là khái niệm về tiêu chuẩn giờ giấc. "Người Anh nhận thấy là họ cần phải thống nhất về giờ giấc, cố nhiên là trước đó người ta cũng đã có đồng hồ, và nếu lần này đi sau hay đi trước lần khác 10 phút thì cũng chẳng sao. Nhưng với một hệ thống xe lửa nối liền mọi nơi và phải đi và đến theo thời biểu thì người Anh phải tuân theo một giờ chung mà lúc bấy giờ họ gọi là "giờ xe lửa". Chẳng bao lâu sau thì tất cả đồng hồ trên nước Anh đều giữ cùng một giờ.". (3)

"Đi một ngày đàng học sàn khôn", một ngày đàng trên xe lửa ta có thể đi từ nam chí bắc nước Anh. Tầm nhìn của người Anh nhờ đó được mở rộng, ít nhất là đối với đất nước của họ. Sự giao lưu về mọi mặt trong quần chúng được mở mang. Quan trọng không nhỏ là tiến bộ về văn hóa và tư duy. Thể loại truyện dài của thời Victoria đã xuất hiện vào lúc này. "Cuộc cách mạng kỷ nghệ khiến cho thành thị Anh mở rộng. Quá trình đô thị hóa đó khiến cho người ta bắt đầu chú ý đến Tâm Lý Học, đến động cơ thúc đẩy hành động của con người. Hiệu năng sản xuất cao và kinh tế phồn vinh đã sinh ra một tầng lớp nhàn rỗi đặc biệt là trong nữ giới. Nhiều phụ nữ trung lưu lúc bấy giờ không phải đi làm và có thời giờ đọc sách, cho nên số độc giả tăng lên cùng với thành phần biết đọc biết viết. Trong suốt thế kỷ 19 trình độ học thức của người Anh lên cao, đặc biệt là tại thành thị. Để tranh thủ độc giả thì lĩnh vực báo chí dần dần bành trướng. Trong văn chương Anh một đặc điểm trong thế kỷ này là thể loại tiểu thuyết lấy đề tài từ báo chí. Trong lĩnh vực chính quyền, quyền lực của giới trung lưu được triển khai. Giới trung lưu Anh vốn là tầng lớp ưa chuộng chữ nghĩa. Với khả năng tham gia chính trị họ bắt đầu suy nghĩ và đóng góp vào những quyết định xã hội. Tôi nghĩ trách nhiệm xã hội của giới trung lưu khiến họ tìm đến với tiểu thuyết, nơi mà các tác giả thời thượng đã gởi gắm những suy tư của họ về hiện trạng xã hội Anh.". (4)

Những văn hào vĩ đại của Anh vào thời này như Charles Dickens, Chị Em Nhà Bronte (Sisters), George Eliot, William Thackeray nay vẫn còn được người ta say sưa đọc. Nhưng thành công về vật chất và ổn định chính trị của nước Anh chưa chắc đã là những điều kiện lý tưởng để sáng tác. Pháp, nhất là Nga, lúc bấy giờ vẫn còn loạn lạc, và trong tình thế đó những pho truyện có thêm một chiều sâu khác đã ra đời. "Tại Nga Dostoevski viết ra tiểu thuyết "Những Con Ác Quỷ", nhìn chung bất kỳ một tác phẩm nào của ông cũng phản ánh một xã hội còn tàn bạo hơn xã hội Anh nhiều. Tại Nga lúc bấy giờ diễn ra nhiều hoạt động chính trị khuynh đảo. Trong một góc độ nào đó chúng phản ánh một tư duy vừa nghiêm túc, vừa duy linh, vừa trí thức hơn xã hội Anh nói chung. Tất cả các nhà văn Anh thời Victoria có vẻ như đã sáng tác trong một môi trường hiền lành hơn nếu mà ta so sánh họ với Dostoevsky, hay Tolstoy. Chiến tranh lúc này đã vắng bóng trên nước Anh, ngay cả khi các tác giả như Thackeray viết về chiến tranh chống Napoleon, chuyện của họ cũng được lồng trong một bối cảnh hiền hòa hơn "Chiến Tranh Và Hòa Bình" của Tolstoy.". (4)

Nga cũng như các nước Châu Âu khác trong thế kỷ thứ 19 đã phải tựa vào công nghiệp tiên tiến của Anh để phát triển. Luân Đôn đã tài trợ cho hệ thống đường sắt nối liền Moskva và St-Petersburg, và ngân hàng Anh nhờ có tài nguyên và mạng liên lạc quốc tế độc nhất vô nhị đã được các nước ùa đến xin vay vốn để phát triển. Ngân Hàng Anh (Bank Of England) đã trở thành một ngân hàng trung ương có quyền lực nhất trên thế giới. Và đóng vai chính trong việc tạo ổn định cho hệ thống tiền tệ thế giới nhờ nó có khả năng chuyển đổi tiền bạc ra vàng. Và từ giữa thế kỷ thứ 19 trở đi hầu như chỉ có tiền do ngân hàng này phát hành là được lưu hành trên khắp nước Anh mà thôi. Tuy nhiên, là nước đầu tiên công nhiệp hóa Anh Quốc đã phải trả một giá khá đắt về xã hội và môi sinh.

Thành phần lao công phải sống chung quanh những nhà máy trong một môi trường bị ô nhiễm nặng nề, và tệ nhất là trẻ con đã suy dinh dưỡng lại bị bóc lột sức lao động. Bệnh tật như dịch tả hoành hành. Tỷ lệ tử vong và bệnh tật đã gia tăng trong những năm đầu của quá trình kỹ nghệ hóa. "Tại Anh Quốc trong giai đoạn đầu, cuộc cách mạng kỷ nghệ đã xảy ra mà không có sự can thiệp của chính phủ. Những hạ tầng cơ sở thích hợp lúc đó chưa có. Các nhà máy và thành thị mọc lên loạn xạ như nấm chứ không theo một quy hoạch chung. Cho nên chẳng mấy ai lo đến việc xử lý chất thải độc hại, bảo vệ không khí và nguồn nước. Thành ra giai đoạn đầu của cuộc cách mạng đã tạo ra những hậu quả tệ hại cho môi trường và con gngười. Vấn đề chính không phải là chính phủ thiếu khả năng tạo ra những hạ tầng co sở cần thiết, mà vì lúc đó kiến thức về y tế công cộng và môi sinh còn rất kém.". (2)

                       
                               Người lao động là trẻ em

Cố nhiên người Anh đã tìm cách giải quyết vấn đề, và kết quả là họ đã tạo dựng những dịch vụ công cộng về y tế, vệ sinh, và một hệ thống luật pháp vượt xa những gì đã có trước đó. Cách mạng công nghiệp đã mang lại nhiều đau khổ cho hàng ngàn dân thường và tàn phá nhiều hệ sinh thái của Anh. Nhưng trong trường kỳ nó đã bắt đầu một giai đoạn lịch sử khi Anh Quốc tạo ra tài sản nhiều và nhanh hơn bao giờ hết. Chắc chắn nó đã đưa nước Anh lên hàng cường quốc kỹ nghệ. "Nếu ta chọn năm 1860 là đỉnh cao của ảnh hưởng kỹ nghệ Anh thì trong năm đó nước Anh đã có 1.5 lần chiều dài đường xe lửa so với Đức và Pháp cộng lại. Về than đá Anh sản xuất nhiều hơn Đức bảy lần và nhiều hơn Pháp năm lần. Về vải thô Anh hơn Đức gần 16 lần, về gas Anh hơn Đức 10 lần, hơn Pháp và Mỹ năm lần. Tưởng cũng nên nhắc lại là Anh Quốc là một hòn đảo nhỏ bé ngoài khơi phía tây Châu Âu với một dân số tương đối nhỏ, chỉ khoảng 25-26 triệu vào những năm 1860-1870. Thế mà Anh Quốc đã sản xuất ra 1/3 tất cả các mặt hàng chế biến được bán ra nước ngoài trong thế kỷ 19 của toàn thế giới. Và Anh Quốc đã nhập khẩu gần 1/3 tất cả nguyên liệu sản xuất ra trên toàn thế giới vào những năm đó.".(2)

Năm 1851 Anh Quốc đã tổ chức một cuộc đại triển lãm để trưng bày của cải và những tiến bộ về khoa học kỷ thuật của mình cho cả thế giới. Tuy tiến bộ vượt bậc về vật chất, một nền văn minh không nhất thiết sẽ đưa đến những thành quả vĩ đại nhất về trí thức. Vào năm 1859, hai cuốn sách được hai học giả người Anh cho in khiến cho cả thế giới chú ý đó là cuốn "The Origin of Species", tạm dịch là "Nguồn Gốc Các Giống Loài" của Charles Darwin, và cuốn tiểu luận "On Liberty", tạm dịch là "Nói Về Tự Do" của John Stuart Mill. Trong lịch sử văn minh không có bao nhiêu tác phẩm đã thay đổi toàn bộ nhận thức về con người của nhân loại.

Nhưng cuốn "Nguồn Gốc Các Giống Loài" của Darwin xứng đáng mang danh hiệu đó vì nó là một cuộc cách mạng tư duy. "Theo tôi con người văn minh không chỉ lo kiếm sống, chơi nhạc hay là thưởng thức văn chương, mà đến một lúc nào đó con người tự đặt cho mình một câu hỏi: chúng ta có mặt trên trái đất tự thuở nào và trong những trường hợp nào? Suy tư về nguồn gốc con người, về mục tiêu của sự sống, đó chính là điều mà Darwin đã cống hiến cho chúng ta. Và nhờ Darwin mà nay ta hiểu về nguồn gốc, về sự hiện hữu và đặc tính của con người cũng như những sinh vật khác trên trái đất. Và tôi cho kiến thức đó là một đặc điểm quan trọng của văn minh nhân loại.". (5)


                           
                                  Charls Darwin (1809-1882

Thế thì lý thuyết của Darwin là gì? 

"Trước tiên đó là Thuyết Tiến Hóa giải thích loài sinh vật này biến đổi thành loài khác như thế nào. Vì tất cả mọi loài đều xuất phát từ một sinh vật "tổ" sống cách đây rất lâu. 

Và điểm thứ hai là Darwin đã đưa ra một công thức để giải thích những biến đổi trong sinh vật do đâu mà có. Ông Darwin đã gọi công thức này là "Natural Selection", tạm dịch là "Sự Chọn Lọc Tự Nhiên", điều sau này ông mô tả là "Survival Of The Fittest" tạm dịch là "Sự Sinh Tồn Của Những Gì Thích Hợp Nhất", nói nôm na là "mạnh được yếu thua". Theo Darwin thì trong mỗi thế hệ của mỗi loài, ngoài những đặc tính chung còn có những đặc tính rất cá biệt. Một số những nét cá biệt đó là di truyền. Khi mật độ của loài đó trở nên quá lớn do sinh sản quá nhiều thì sẽ sinh ra cạnh tranh để sinh tồn. Và trong cuộc cạnh tranh đó sinh vật nào có đặc tính cá biệt thích hợp nhất, tức là có nhiều ưu điểm nhất, sẽ có nhiều cơ may sống sót và sinh sản để truyền lại những ưu điểm đó cho thế hệ tương lai. Do đó, qua nhiều thế hệ mọi giống loài sẽ được cải thiện và trở nên thích ứng hơn với môi trường sống của chúng. Chim bay rất hay, cá lội rất giỏi, đều là hậu quả của cơ chế lựa lọc tự nhiên này. Đó là điều mà ngày nay Di Truyền Học gọi là "đặc tính được thừa kế" qua gene.". (5)

                      
       Hành trình Darwin đã đi trong 5 năm, quan sát và thu tập dữ liệu căn bản của Thuyết Tiến Hóa


Con người là loài có khả năng suy nghĩ giỏi nhưng cũng phải mất hàng triệu năm thì bộ óc của con người mới tiến hóa tới mức đó. Thời Victoria không thiếu người xem Thuyết Tiến Hóa của Darwin là một đe dọa nguy hiểm cho những niềm tin lớn của họ. "Thuyết của Darwin đã đe dọa các tôn giáo chính thống. Từ bao thế hệ các con chiên đã được dạy dỗ rằng thế giới là do Đấng Sáng Thế thiêng liêng tạo ra trong một ngày, hay sáu ngày bảy ngày gì đó. Và tất cả các sinh vật được tạo ra đều đã hoàn hảo. Nhưng Darrwin đã làm phật lòng giới mộ đạo vì Thuyết Tiến Hóa đi ngược với giáo điều trong Kinh Thánh của họ. Nhiều tài liệu còn để lại từ thời Victoria cho thấy nhiều người rất bất mãn với việc bị coi là có liên hệ huyết thống với các loài khỉ vượn.". (5)

Ngày nay hầu hết những người theo Ki Tô Giáo có thể dung hòa thuyết Darwin với tín ngưỡng của họ. Nhưng vào thời Victoria, Darwin biết rằng tư tưởng của ông sẽ làm mất lòng nhiều người và chuyện này làm ông mất ăn mất ngủ không ít. Chúng ta có thể thương hại Darwin. Là một con người nhân hậu không muốn làm phật lòng ai. Nhưng rốt cuộc ông không thể tránh né một chân lý khoa học. Đó chính là tính quả cảm của một người trí thức và một tư duy rất văn minh. Darwin đã viết ra cuốn "Nguồn Gốc Các Giống Loài" để đưa ra một giả thuyết, để kích thích tranh luận chứ không phải áp đạt một giáo điều. "So với tiêu chuẩn hiện đại thì cuốn "Nguồn Gốc Các Giống Loài" là một cuốn sách lớn. Khi soạn nó Darwin đã chú trọng nhiều đến các chi tiết. Ông cố ý đập mạnh vào tâm thức độc giả với nhiều lập luận rất kiên cố và nhiều bằng chứng. Đầu óc sâu sắc của Darwin đã đoán trước tất cả các lập luận mà người ta có thể dùng để phản bác ông, và thay vì tỏ vẻ khinh thị, ông đã phân tích tất cả với một thái độ nghiêm túc và đầy thiện cảm. Ông cố ý dùng kiến thức sâu rộng của ông về lịch sử thiên nhiên để giải thích và thuyết phục độc giả vế Thuyết Tiến Hóa.". (5

Cùng năm 1859 cuốn tiểu luận "On Liberty-Nói Về Tự Do" của John Stuart Mill được xuất bản. Cũng như Darwin, Mill là con người thiết tha với việc tìm kiếm chân lý. Ông tin tưởng là quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận là hai yếu tố tối cần cho việc truy tầm sự thật. Quan niệm về tự do của Mill có tính bao quát hơn tất cả những gì cùng thời. "Mill cho rằng tự do không chỉ là những gì không bị luật pháp kiềm tỏa. Mill tin tưởng rằng trong thời đại của ông thì đe dọa chính của tự do không phải là các định chế của nhà nước mà là thành kiến của đại đa số quần chúng. Các thành kiến đó vẫn có tính độc tài áp bức và xâm phạm. Tư tưởng của Mill đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong tư duy của thành phần cấp tiến vì ông quan tâm đến việc bảo vệ quyền tự do cho những nhóm thiểu số muốn được sống một cách khác biệt với đa số quần chúng chung quanh. Thành ra, ta có thể nói là cuốn tiểu luận "On Liberty" của Mill là một công trình nhằm cổ vũ cho việc bảo vệ quyền tự do chọn lối sống của những nhóm thiểu số.". (6)

                        
                              John S. Mill (1806-1873)

Nếu ta dùng lý luận của Mill để suy diễn cho đến tận cùng thì mỗi cá nhân đều có quyền tự quyết về lối sống của mình, cho dù xã hội có cho đó là một thái độ lập dị. Tư tưởng của Mill vì vậy đã đóng một vai trò then chốt trong việc nâng quyền tự do của cá nhân lên thành một đặc tính chủ yếu của văn minh phương Tây. Trong cuốn "Nói Về Tự Do" Mill viết:

"...Giả dụ tất cả nhân loại chia sẻ một ý kiến trừ một người duy nhất, thì nhân loại cũng không có lý do chính đáng nào để bịt miệng người này cả. Cũng như người này, nếu có quyền, cũng không có lý do chính đáng nào để bịt miệng nhân loại..."

Mill còn viết là tư tưởng sinh động nhất và mạnh nhất khi nó là kết quả của một cuộc tranh đấu. Trong cuốn "Nói Về Tự Do" ông đã biện luận một cách hùng hồn là mỗi người phải biết suy nghĩ cho chính mình. Phải luôn luôn cảnh giác để chống lại những chỉ đạo về tư tưởng từ người  khác.

Chính vì quyết tâm bảo vệ tính độc lập của tư duy và tôn trọng sự thật mà Mill và Darwin đã đạt được những thành quả đột phá trong tư tưởng. Charles Darwin và John Stuart Mill được xem là biểu hiệu cho tinh anh của văn minh thời Victoria. Dù cả hai đều đã bị nhiều người cùng thời bài xích và bị xem là lập dị.

Nội dung được trình bày bỡi:
(1) Sử gia David Kineston
(2) Giáo sư Kent Brown - Đại học Queen
(3) Giáo sư John King - Đại học Wale
(4) Giáo sư John Kerry - Đại học Oxford
(5) Giáo sư Richard Donkin - Đại học Oxford
(6) John Gray - Chủ biên Tuyển Tập lớn nhất các tác phẩm của Mill

(Hình minh họa nguồn internet)